số tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Thứ hai, ảnh hởng của cơ chế kế hoạch hoá
tập trung làm cho lề lối, tác phong làm việc của ngời lao động còn chậm chạp, thiếu
động lực, sáng tạo trong lao động. Thứ ba, chất lợng của lao động nớc ta còn thấp thể
hiện rõ qua trình độ văn hoá và cơ cấu trình độ đào tạo của lao động tham gia hoạt động
kinh tế.
Cơ cấu ngành nghề đào tạo của lực lợng lao động cũng là một yếu tố xác định
khả năng về cung lao động. Cơ cấu này phản ánh các ngành nghề đợc đào tạo có đáp
ứng nhu cầu và cơ cấu ngành nghề mà nền kinh tế cần hay không. Tuy nhiên, thực tế
cho thấy cha có sự gắn kết giữa ngành nghề đào tạo và cầu về ngành nghề nền kinh tế
đòi hỏi, dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động có đào tạo. Sự bất hợp lý về cơ
cấu trình độ chuyên môn, cơ cấu ngành nghề trong những năm qua đã ảnh hởng lớn tới
sự vận hành của thị trờng lao động mới hình thành và thực hiện mục tiêu chiến lợc phát
triển kinh tế - xã hộ ở nớc ta.
Các phân tích rất khái quát trên đây cho thấy cung về lao động có tầm quan trọng
đặc biệt không chỉ theo nghĩa hẹp của thị trờng lao động mà nó còn ảnh hởng tới toàn
bộ nền kinh tế. Chính vì vậy, từ giữa thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của lý thuyết
tăng trởng kinh tế mới, phát triển nguồn nhân lực là một trong các mục tiêu hàng đầu
của các quốc gia. Để đánh giá sự phát triển nguồn lực con ngời của một nớc, trên thế
giới hiện nay đang sử dụng chỉ số phát triển nguồn nhân lực ( HDI ). Chỉ số này đợc xác
định dựa trên 4 chỉ số sau đây: 1)Tuổi thọ trung bình; 2)Tỉ lệ ngời biết chữ; 3)Tỉ lệ học
sinh đến trờng các cấp; 4)GDP thực tế trên đầu ngời tính theo phơng pháp PPP. Hai
trong bốn chỉ số trên là tỉ lệ ngời biết chữ và tỉ lệ học sinh đến trờng các cấp có liên
quan đến cung của thị trờng lao động. Theo báo cáo phát triển nguồn nhân lực của ch-
ơng trình phát triển của liên hợp quốc, giá trị HDI của Việt Nam năm 1998 là 0,664 xếp
thứ 110 trong số 174 nớc trên thế giới, mặc dù đã có những tiến bộ nhng vẫn còn khác
xa các nớc trong khu vực nh Inđônêxia (xếp thứ 105), Philipin (77), Thái Lan (65),
Malaixia (56), Brunây(25), Xingapo (22). Qua chỉ số HDI chúng ta cũng phần nào đánh
5
giá đợc cung về thị trờng lao động của nớc ta trong sự so sánh với các nớc trong khu vực
và các nớc trên thế giới.
Về cầu của thị trờng lao động là đòi hỏi đặt ra đối với thị trờng lao động về số và
chất lợng lao động trong điều kiện một mức giá sức lao động nhất định. Cầu về lao động
phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh: nguồn tài nguyên của một nớc, quy mô, trình độ công
nghệ, cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế , mức tiền công (tiền lơng), phong tục tập
quán, tôn giáo và phụ thuộc vào chính sách phát triển kinh tế. Đối với các nớc đang
phát triển nhu cầu về lao động thực sự không lớn do quy mô của nên kinh tế nhỏ, vì vậy
nhìn chung thừa lao động. Nớc ta lại đang trong tình trạng quá trình chuyển đổi, bên
cạnh cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế luôn đợc điều chỉnh còn phải đối mặt với một
loạt vấn đề về thể chế liên quan đến lao động nh : khung khổ luật pháp về lao động cha
hoàn thiện, quy định và chính sách tiền công, tiền lơng còn bất cập
Số ngời đợc thu hút vào hoạt động kinh tế ở nớc ta tăng lên hằng năm khoảng trên
1 triệu ngời nhng cơ cấu lao động phân bố theo các khu vực kinh tế thay đổi rất chậm.
Từ năm 1991 đến năm 1998, lao động trong nông- lâm-ng nghiệp vẫn giữ vị trí hàng
đầu, giảm từ 73.26% xuống 68.2% tổng lao động tham gia hoạt động kinh tế. Lao động
trong khu vực công nghiệp chiếm tỉ lệ thấp nhất, đạt cao nhất 13.25% năm 1995 và
giảm xuống còn 12.72% năm 1998. Lao động trong khu vực dịch vụ mặc dù tăng liên
tục từ 14.3% năm 1991 lên 19.01% năm 1998.
Sau hơn 10 năm cải cách, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hớng phát triển
công nghiệp và dịch vụ, nhng Việt Nam vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp. Lực lợng
lao động ở nông thôn năm 1998 chiếm tới 74.8% tổng lao động trong đó 81.8% đợc thu
hút vào các hoạt động nông-lâm- ng nghiệp, số còn lại hoạt động phi nông nghiệp. Lao
động trong nông nghiệp không đợc toàn dụng một mặt do sức ép về tăng số lao động
mới ở nông thôn, mặt khác do chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp thuần tuý
sang hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn cũng nh sang các khu vực công nghiệp và
dịch vụ diễn ra rất chậm. Số lao động phi nông nghiệp nam 1998 chiếm 25,2% tăng
6
0,4% so với năm 1997, nhng chỉ có 67% có việc làm thờng xuyên, số còn lại thiếu hoặc
không có việc làm.
Thiếu việc làm, không có việc làm ở nông thôn dẫn đến tình trạng di chuyển lao
động từ nông thôn ra đô thị, phần lớn tìm việc làm phi chính thức. Tuy nhiên theo số
liệu chính thức, số lao động từ nông thôn ra thành thị năm 1998 giảm 1.733.241 ngời so
với năm 1996. Cùng với nhịp độ giảm sút kinh tế năm 1998, tỷ lệ thất nghiệp chính thức
và số ngời thiếu việc làm ở thành thị tăng lên đã làm giảm cơ hội có đơcj số việc làm
cho số dân nông thôn ra thành thi tìm việc.
Trớc những diễn biến nêu trên, vấn đề giải quyết việc làm đợc Chính phủ đặc biệt
quan tâm và đã thực hiện nhiều biện pháp dài hạn và biện pháp ngắn hạn.
Tóm lại, trong giai đoạn vừa qua chúng ta đã quan tâm giải quyết cả hai vế cung
và cầu lao động, nhng chú trọng hơn tới biện pháp giảI quyết việc làm. đIều này thể
hiện tính cấp bách tạo công ăn việc làm và thu nhập cho ngời lao động. Tuy nhiên cùng
với quá trình đổi mới nền kinh tế, nếu cứ tiếp tục cách tiếp cận nh trên sẽ không đáp ứng
đợc nhu cầu lao động cho phát triển kinh tế ở nớc ta trong giai đoạn tới. Vì vậy, trong
thời gian tới, một mặt cần tạo việc làm cho ngời lao động nhng cũng đồng thời cần nâng
cao chất lợng của nguồn lao động.
2. Việc làm
Dân số đông tạo nguồn lao động dồi dào biểu hiện một tiềm năng phong phú, có
thể huy động vào việc thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển. Nhng mặt khác, nguồn
lao động dông đảo có thể gây nên tình trạng cản trở cho sự phát triển kinh tế.
Khi nguồn lao động đợc huy động, sử dụng hiệu quả thì tình trạng thiếu việc làm
sẽ xảy ra, dẫn đến thu nhập ngời lao động thấp, giảm mức sống con ngời. Đồng thời đó
cũng là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội, thậm chí tạo ra các xung đột gây rối
loạn về mặt an ninh chính trị Chính vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm, nâng cao mức
sống, xoá đói giảm nghèo trở nên có ý nghĩa to lớn, đợc quan tâm trong các mô hình
phát triển hiện nay ở mọi quốc gia, đặc biệt là ở các nớc đang phát triển.
7
Để giải quyết vấn đề này cần phải hiểu rõ về vấn đề việc làm. Tuỳ theo cách tiếp
cận mà ngời ta có những định nghĩa khác nhau về việc làm.
ở Việt Nam Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 đã xác định: Mọi hoạt động
tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đợc thừa nhận là việc làm. Với khái
niêm về việc làm nh vậy thì hoạt động đợc xác định là việc làm bao gồm:
+ Làm các công việc đợc trả công dới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
+ Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho
gia đình mình nhng không đợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó.
Nh vậy để có việc làm, không nhất thiết chỉ vào cơ quan xí nghiệp Nhà nớc mà có
thể tìm việc làm trong mọi tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan thuộc mọi thành phần kinh tế
hoặc do chính bản thân từng ngời lao động tạo ra để có thu nhập.
Khái niệm việc làm có liên quan chặt chẽ với khái niệm lao động nhng không
hoàn toàn giống nhau. Việc làm thể hiện mối quan hệ của con ngời với những chỗ làm
việc cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời việc
làm là điều kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội về lao động và cũng là nội dung
chính trong hoạt động con ngời. Trên giác độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tơng quan
giữa sức lao động với t liệu sản xuất, giữa yếu tố con ngời với yếu tố vật chất trong quá
trình sản xuất.
Gắn với khái niệm việc làm là khái niệm thất nghiệp. Trong bất kỳ nền kinh tế
nào dù có toàn dụng lao động đến mức tốt nhất thì xã hội vẫn tồn tại thất nghiệp. Thất
nghiệp là hiện tợng mà ngời lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
muốn làm việc nhng lại cha có việc làm và đang tích cực tìm việc (công nhân viên trong
các cơ quan xí nghiệp Nhà nớc bị dôi ra trong qúa trình sắp xếp sản xuất cha có việc
làm nhng hiện đang đi tìm việc, học sinh tốt nghiệp các trờng chuyên nghiệp và học
nghề trong nớc, ngời đi học tập, làm việc ở nớc ngoài về đang tìm việc làm, những ngời
lao động hết hạn hợp đồng làm việc đang liên hệ tìm việc làm mới ).
Khi nói đến thất nghiệp thì tỷ lệ thất nghiệp là một trong các chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá tình trạng của một nền kinh tế, là mối quan tâm hàng đầu của mọi Chính
8
phủ và mọi ngời trong xã hội. Theo cách tính thông thờng, tỷ lệ thất nghiệp tính bằng
phần trăm (%) của tỷ số giữa tổng số ngời thất nghiệp với tổng số lực lợng lao động theo
công thức sau:
U
UR = 100%
RF
Trong đó : UR là tỷ lệ thất nghiệp (%)
U là tổng số thất nghiệp
LF là tổng lực lợng lao động
Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau, ngời ta chia thất nghiệp ra thành nhiều
loại. ở các nớc đang phát triển, ngời ta dùng khái niệm thất nghiệp hữu hình và thất
nghiệp trá hình. Thất nghiệp trá hình gồm bán thất nghiệp và thất nghiệp vô hình. Ngòi
ta cho rằng thất nghiệp trá hình là biểu hiện chính của tình trạng cha sử dụng hết lao
động ở các nớc đang phát triển. Họ là những ngời có việc làm trong khu vực nông thôn
hoặc thành thị không chính thức nhng việc làm đó có năng suất rất thấp, những ngời này
đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất.
Tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao sẽ có ảnh hởng không tốt đến cả tình hình kinh tế và
xã hội.
Về mặt kinh tế, khi mức thất nghiệp cao, một bộ phận ngời lao động và tài
nguyên sẽ bị lãng phí vì không kết hợp đợc hài hoà giữa sức lao động và tài nguyên
thiên nhiên. Do đó ảnh hởng đến sự tăng trởng và phát triển của nền kinh tế, thu nhập
quốc dân và thu nhập của các tầng lớp dân c trong xã hội tăng chậm, thậm chí giảm sút.
Về mặt xã hội, khi mức thất nghiệp cao sẽ làm tăng các tệ nạn xã hội, cuộc sống
tinh thần của con ngời luôn ở trạng thái căng thẳng, làm xói mòn nếp sống lành mạnh,
có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, gây tổn thơng về tâm lý và niềm tin của
nhiều ngời.
Trong nền kinh tế thất nghiệp là hiện tợng kinh tế khách quan, ngời ta chỉ có thể
hạn chế tỷ lệ thất nghiệp chứ không loại bỏ đợc nó.
9
Vì vậy, trong chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2005 Đảng ta
đã xác định: Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa nguồn lực lao động xã hội là mục tiêu
quan trọng hàng đầu của chiến lợc, là một tiêu chuẩn để định hớng cơ cấu kinh tế và lựa
chọn công nghệ ở nớc ta hiện nay.
II/ một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu lao động - mô
hình hai khu vực và di c từ nông thôn ra thành thị
1. M ô hình của Lewis - Fei - Ranis
Mô hình Lewis - Fei - Ranis cho rằng một nền kinh tế kém phát triển bao gồm
hai khu vực: một khu vực nông nghiệp tự cung tự cấp truyền thống đợc đặc trng bởi lao
động thừa có năng suaats lao động bằng không hoặc rất thấp và một khu vực công
nghiệp thành thị hiện đại có năng suất lao động cao mà lao động ở khu vực nông
nghiệpdần dần chuyển sang đó.
Trọng tâm của mô hình Lewis - Fei - Ranis là quá trình thuyên chuyển lao động
và mức tăng công ăn việc làm trong khu vực hiện đại. Cả việc thuyên chuyển lao động
và mức tăng công ăn việc làm ở thành thị chính thức là kết quả của việc tăng sản lợng
trong khu vực hiện đại. Tốc độ của tiến trình này phụ thuộc vào mức đầu t hay tích luỹ
vốn trong khu vực hiện đại.
Sỡ dĩ có đợc vốn đầu t là do có sự vợt trội của lợi nhuận trong khu vực hiện đại so
với tiền lơng, khi ngời ta giả định rằng các nhà t bản luôn tái đầu t các khoản lợi
nhuận của mình. Cuối cùng, mức lơng ở khu vực công nghiệp đợc giả định là không đổi
và đợc ấn định ở mức cao hơn mức lơng đủ để tồn tại ở khu vực nông nghiệp truyền
thống. Tuy nhiên với mức lơng thành thị không đổi nh vậy thì mức cung lao động nông
thôn sẽ đợc coi là hoàn toàn co giãn.
10
Hình 1: Mô hình Lewis - về tăng trởng và thất nghiệp trong một nền kinh tế kép
d thừa lao động.
Đây là mô hình Lewis - Rei - Ranis diễn tả quá trình phát triển của khu vực hiện
đại:
OA: biểu thị mức thu nhập thực tế trung bình đủ để tồn tại của khu vực nông
nghiệp truyền thống.
OW: là mức lơng thực tế trong khu vực TBCN, tại đây cung lao động nông thôn
đợc giả định là vô hạn, biểu thị bằng đờng WS.
Giả sử K
1
là mức cung vốn không đổi trong giai đoạn tăng trởng ban đầu của khu
vực hiện đại. Đờng cầu lao động đợc xác định bởi sản phẩm cận biên giảm dần, biểu thị
bằng đờng
D
1
(K
1
). Vì các ông chủ của khu vực hiện đại với chủ trơng tối đa hoá lợi
nhuận đợc giả định là sẽ thuê lao động cho tới điểm mà sản phẩm cận biên bằng với
mức lơng thực tế ( tức là giao điểm F giữa đờng cung và đờng cầu lao động) nên toàn bộ
số lao động ở khu vực hiện đại sẽ là OL
1
. Tiền lơng trả cho công nhân là OW. Khi đó
tổng số tiền lơng bằng diện tích OWFL
1
và sản lợng thặng d bằng diện tích WD
1
F, đây
11
L1 L2 L3
L
I
O
A
W
D1
D2
D3
Lợi nhuận
lương
D1(K1)
D2(K2)
D3(K3)
F H
S
G
Lương thực tế (và SP
biên của lao động)
Lao động
chính là lợi nhuận của nhà t bản. Vì ta giả định rằng toàn số lợi nhuận này sẽ đợc tái đầu
t nên tổng số vốn khu vực hai tăng lên từ K
1
đến K
2
. Khi đó làm cho tổng sản phẩm khu
vực hiện đại dịch chuyển theo và điều này tác động đến sản phẩm cân bằng hoặc cầu lao
động và đờng cầu lao động dịch chuyển sang đờng D
2
(K
2
); G trở thành điểm cân bằng
mới với số lợng lao động là OL
2
, mức lơng không đổi. Khi đó tổng sản lợng là OD
2
L
2
,
tổng lơng là OWGL
2
và lợi nhuận là WD
2
G. Một lần nữa lợi nhuận tăng lại tái đầu t
khiến cho tổng số vốn tăng lên K
3
làm cho cầu lao động dịch chuyển lên D
3
(K
3
) và làm
tăng mức sử dụng nhân công lên L
3
.
Quá trình tăng trởng và lấy thêm công nhân trong khu vực hiện đại đợc giả định
là sẽ tiếp tục tăng cho đến khi toàn bộ số lao động d thừa ở nông thôn đợc khu vực
công nghiệp thành thị hấp thụ hết. Sau đó đờng cung lao động sẽ dốc lên và cả mức lơng
thành thị lẫn số công nhân sẽ tiếp tục tăng. Đây là thời điểm hoàn tất công cuộc chuyển
đổi cơ cấu của nền kinh tế và quá trình hiện đại hoá công nghiệp thống trị toàn bộ hoạt
động của nền kinh tế.
Mặc dù mô hình phát triển của Lewis - Fei - Ranis vừa đơn giản vừa tơng đối phù
hợp với thực tế trớc đây của công cuộc phát triển kinh tế ỏ phơng Tây nhng nó có ba giả
định then chốt khác biệt so với tình trạng thấp kém phát triển hâù hết ở các nớc thuộc
thế giới thứ ba:
Thứ nhất, mô hình này ngầm giả định rằng, tốc độ thuyên chuyển lao động và
công ăn việc làm tỷ lệ thuận với tốc độ tích luỹ vốn. Vấn đề là nếu các khoản lợi nhuận,
thặng d, t bản lại không tái đầu t vào trang thiết bị, tiết kiệm sức lao động tinh, chứ
không đơn thuần chỉ bổ sung thêm vào số vốn hiện có nh mô hình ngầm định.
Thứ hai, mô hình này giả định rằng lao động ở vùng nông thôn là d thừa. Trong
khi đó có sự toàn dụng nhân công ở khu vực thành thị. Thực tế lại gần nh ngợc lại với
các nớc thuộc thế giới thứ ba, đó là nhiều thất nghiệp ở khu vực thành thị trong khi
không có d thừa lao động ở khu vực nông thôn. Quy luật này cũng có ngoại lệ về địa lý
và mùa vụ, nhng thực tế quy luật này đúng hơn giả định của Lewis - Fei - Ranis.
12
Giả định thứ ba khác với thực tế là quan niệm về sự không đổi của mức lơng thực
tế của khu vực thành thị cho đến khi nguồn cung cấp lao động ở nông là cạn kiệt. Tuy
nhiên một trong những nét nổi bật của tình hình lơng ở thành thị tại hầu hết ở các nớc
đang phát triển là xu hớng mức lơng tăng lên, xét cả về mặt tuyệt đối lẫn tơng đối khi so
sánh với mức thu nhập bình quân ở nông thôn ngay cả khi mức thu nhập công khai tăng
lên. Tuy nhiên, mô hình cũng có giá trị phân tích nhất định ở chỗ nó nhấn mạnh đến hai
yếu tố chủ yếu của vấn đề công ăn việc làm: những sự khác biệt về cơ cấu kinh tế giữa
khu vực nông thôn, thành thị.
2. Mô hình của TODARO
Mô hình di c của Todaro có bốn đặc điểm cơ bản:
- Di c đợc khuyến khích bởi những cân nhắc hợp lý về kinh tế đối với mối quan
hệ lợi ích và chi phí, mà phần lớn về mặt tài chính cũng nh cả về mặt tâm lý.
- Quyết định di c phụ thuộc vào mức chênh lệch dự kiến hơn là mức chênh lệch
thực tế về lơng giữa vùng nông thôn và thành thị.
- Xác suất tìm đợc việc làm ở khu vực thành thị tỷ lệ nghịch với thất nghiệp ở
thành thị.
- Hiện tợng tốc độ di c vợt quá tốc độ tăng công ăn việc làm ở thành thị không
những có thể xảy ra mà còn là hiện tợng hợp lý và thậm chí còn có thể xảy ra trong tình
hình thu nhập dự kiến giữa nông thôn và thành thị chênh lệch nhau đáng kể. Do vậy tỷ
lệ thất nghiệp cao ở thành thị chính là hậu quả tất yếu của quá trình mất cân đối nghiêm
trọng về các cơ hội kinh tế giữa nông thôn và thành thị ở các nớc chậm phát triển.
Mặc dù thoạt đầu một học thuyết có vẻ nh hạ tầm quan trọng của vấn đề di c từ
nông thôn ra thành thị thông qua việc mô tả nó nh một cơ chế điều chỉnh mà qua đó ng-
ời lao động tự phân bổ giữa các thi trờng lao động giữa nông thôn và thành thị nhng sự
thực nó lại có những tác động quan trọng về mặt chính sách đối với chiến lợc phát triển
liên quan đến mức lơng và thất nghiệp, sự phát triển nông thôn và công nghiệp hoá.
Những tác động này bao gồm:
13
Tình trạng mất cân đối trong các cơ hội về công ăn việc làm giữa nông thôn và
thành thị.
Vì theo giả định thì những ngời di c sẽ hành động theo xu hớng chênh lệch trong
thu nhập dự kiến nên một điều quan trọng là phải giảm tới mức thấp nhất tình trạng mất
cân đối trong các cơ hội về kinh tế ở nông thôn và thành thị. Nếu ta xác định mức lơng
dự kiến ở thành thị bằng cách lấy mức lơng thực tế Wu nhân với xác suất tìm việc làm
ở thành thị Pu (Pu = Số công việc ở thành thị Eu/lực lợng lao động ở thành thị Lu) sao
cho mức chênh lệch thu nhập dự kiến giữa nông thôn và thành thị là Wu(EU/Lu) - Wr,
thì chênh lệch giữa mức lơng thực tế ở nông thôn và thành thị là Wu - Wr càng lớn bao
nhiêu thì tỷ lệ có việc làm ở thành thị Eu/Lu càng phải thấp bấy nhiêu để chấm dứt tình
trạng số ngời di c vợt quá số cơ hội công ăn việc làm.
Vậy có thể kết luận việc cho phép lơng ở thành thị tăng với tốc độ cao hơn so với
mức thu nhập trung bình ở nông thôn sẽ khuyến khích thêm việc di c từ nông thôn ra
thành thị bất chấp tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ngày càng tăng. Dòng ngời di c đông đảo
này không những là nguyên nhân của nhiều vấn đề kinh tế xã hội ở thành phố mà cũng
có thể tạo ra tình trạng thiếu lao động ở nông thôn đặc biệt là vào mùa vụ.
Tạo công ăn việc làm cho thành thị là một giải pháp cha đầy đủ cho vấn đề thất
nghiệp ở thành thị. Giải pháp kinh tế truyền thống (theo kiểu Keynes) cho rằng vấn đề
thất nghiệp ở thành thị mà không cải thiện thu nhập và các cơ hội công ăn việc làm ở
nông thôn có thể dẫn đến một tình thế nghịch lý trong đó nhiều công việc ở thành thị
hơn sẽ dẫn đến mức thất nghiệp ở thành thị và nông thôn cao hơn. Theo giả thiết, tỷ lệ di
c tăng lên theo cả mức lơng và số cơ hội công ăn việc làm ở thành thị cho nên đối với
bất kỳ một mức chênh lệch về lơng giữa nông thôn và thành thị, số công ăn việc làm ở
thành thị tăng lên sẽ mở rộng mức chênh lệch dự kiến và còn kích thích nhiều ngời dời
nông thôn ra thành thị. Mỗi công việc mới tạo thêm lại có thể hấp dẫn hai đến ba ngời di
c trớc đó tham gia vào quá trình sản xuất ở nông thôn. Do đó, một chính sách đợc hoạch
định làm giảm thất nghiệp sẽ không chỉ dẫn đến mức thất nghiệp ở thành thị cao hơn mà
còn làm giảm sản lợng nông nghiệp và số công việc ở nông thôn.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét