các nước sử dụng những tiêu chuẩn quốc tế phù hợp, nhưng khơng buộc
các nước thay đổi mức độ bảo hộ do sự tiêu chuẩn hóa. Điểm mới của
hiệp định đã sửa lại là nó bao gồm cả q trình và những phương thức sản
xuất liên quan đến đặc tính của bản thân sản phẩm. Những thủ tục đánh
giá sự phù hợp được mở rộng và những quy tắc được quy định chính xác
hơn. Những điều khoản áp dụng cho chính quyền địa phương và những
khu vực phi chính phủ được thảo chiết tại vòng đàm phán Tokyo. Quy
chế thủ tục đối với việc soạn thảo chấp nhận và áp dụng các tiêu chuẩn
được chấp thuận tự do bởi bất kì có quan tiêu chuẩn hóa nào của một
nước thành viên của WTO, và điều này được nêu lên trong phần phụ lục
của hiệp định.
5.Những vấn đề đặt ra đối với ngành dệt may Việt Nam:
Quỏ trỡnh hội nhập kinh tế tồn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, khi
những rào cản thuế quan dần được xố bỏ thỡ những quy định khắt khe
về tiêu chuẩn là một trong những rào cản quan trọng nhất đối với thương
mại. Với Việt Nam, khi quỏ trỡnh hội nhập đang đến gần thỡ lộ trỡnh cho
việc xõy dựng một hệ thống hành lang về cỏc tiờu chuẩn kỹ thuật vẫn
chưa có được một hướng đi.
Theo Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, hiện nay hệ
thống tiêu chuẩn Việt Nam gồm ba cấp: tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn
ngành và tiêu chuẩn cơ sở. Với tổng số 7.000 tiêu chuẩn nhưng thực tế
chỉ có 5.800 tiêu chuẩn là áp dụng được. Số cũn lại là những tiờu chuẩn
được ban hành theo tiêu chuẩn của Đơng Âu và Liên Xơ cũ-nhiều tiêu
chuẩn cũn thiếu, lạc hậu, mức độ hài hồ cũn chưa cao. Trong 5.800 tiêu
chuẩn chỉ có 1.300 tiêu chuẩn là tương đương và có mức độ hài hồ với
các tiêu chuẩn quốc tế (chiếm 23%). Điều này cũng có nghĩa chúng ta
cũn phải nỗ lực rất nhiều mới cú thể đẩy mạnh việc hài hồ với tiêu chuẩn
thế giới khi chúng ta gia nhập WTO. Quy định của WTO là hai năm sau
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
gia nhập phải hồn thành các điều khoản thực thi hiệp định thương mại
TBT/WTO trong đó có hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Hiện nay do có nhiều tiêu chuẩn quốc gia chưa phù hợp với tiêu
chuẩn quốc tế nên doanh nghiệp đang phải cùng lúc áp dụng nhiều tiêu
chuẩn: tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn quốc gia (đối với những danh mục
tiêu chuẩn bắt buộc phải cơng bố) và tiêu chuẩn của quốc gia có hàng
xuất khẩu Doanh nghiệp đang phải đối mặt với hàng rào kỹ thuật do các
nước lập ra, những tiêu chuẩn khơng phù hợp sẽ khơng được chấp nhận.
Khi đó để hàng hố lưu thơng, doanh nghiệp sẽ phải chịu thêm rất nhiều
chi phí tốn kém cho các thử nghiệm, chứng nhận, cơng nhận tại các
nước này.
Mặc dù Việt Nam đó tham gia vào nhiều thoả ước thừa nhận lẫn
nhau như: ASEAN EE MRA (về thiết bị điện và điện tử), APEC EE
MRA (thoả ước thừa nhận về đánh giá sự phù hợp thiết bị điện điện tử),
APEC tel MRA (thoả ước về sự thừa nhận lẫn nhau về đánh giỏ sự phự
hợp thiết bị viễn thụng), APLAC thoả thuận thừa nhận lẫn nhau về cụng
nhận phũng thớ nghiệm) nhưng cũng chỉ mang tính song phương và
khu vực. Những hội thảo về xây dựng, điều chỉnh hệ thống tiêu chuẩn
quốc gia trước thềm hội nhập được đem ra bàn thảo nhiều lần, nhưng
ngay sự phân cấp trong hệ thống tiêu chuẩn hiện nay, cơ quan ban hành
tiêu chuẩn cũng thừa nhận việc phân định ranh giới giữa tiêu chuẩn ngành
và tiêu chuẩn quốc gia rất khó vỡ yờu cầu tiờu chuẩn kỹ thuật là gần
giống nhau. Hàng năm ngân sách Nhà nước đề dành một khoản kinh phí
để các bộ, ngành ban hành ra các tiêu chuẩn ngành, cũn Bộ Khoa học
Cụng nghệ là nơi ban hành tiêu chuẩn quốc gia. Bộ Khoa học Cơng nghệ
khi xây dựng tiêu chuẩn quốc gia đều dựa trên các tiêu chuẩn ngành hoặc
tiêu chuẩn ngành ban hành lấy tiêu chuẩn quốc gia làm căn cứ. Như vậy
chúng ta phải mất kinh phí cho hai lần xây dựng tiêu chuẩn và doanh
nghiệp phải chịu thêm những chi phí thử nghiệm, cơng nhận trong khi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
quy trỡnh lại hồn tồn giống nhau. Tuy nhiờn vướng mắc lớn nhất của
chúng ta là khó có thể hồ hợp tồn bộ tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu
chuẩn quốc gia. Do trỡnh độ kỹ thuật, cơng nghệ của doanh nghiệp trong
nước cũn chưa cao, những tiêu chuẩn q cao được đưa vào làm tiêu
chuẩn quốc gia doanh nghiệp sẽ khú cú thể ỏp dụng. Cũn nếu khụng tiến
tới hồ hợp ngang bằng với cỏc hệ thống tiờu chuẩn khu vực và quốc tế
thỡ ngay cả doanh nghiệp trong nước cũng khó mà cạnh tranh được khi
hàng ngoại nhập với những tiêu chuẩn về chất lượng và kỹ thuật cao tràn
vào.
Thực thi hiệp định TBT/WTO cũng là để bảo vệ đối với hàng hố
trong nước. Vỡ trong điều 12 (hướng dẫn về thực thi hàng rào kỹ thuật
trong thương mại) WTO đó cú những quy định về ưu đói đặc biệt trong
áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các mặt hàng xuất khẩu từ nước thành
viên đang phát triển. Nhưng xây dựng hệ thống này như thế nào để đảm
bảo ngun tắc về cơng bằng, khơng phân biệt đối xử và minh bạch hố
hoạt động này là vấn đề khơng đơn giản. Quy trỡnh kiểm tra chất lượng
hàng hố giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu phải khơng gây cản
trở q mức cần thiết theo ngun tắc thương mại.
Sẽ khụng cũn là sớm nếu như theo đúng dự kiến chúng ta gia nhập
WTO vào năm 2005, việc hồn thiện về hệ thống tiêu chuẩn mới có thể
thực thi được quy định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại. Việc thiết
lập một diễn đàn để phản ánh ý kiến của cỏc nhà xõy dựng tiờu chuẩn ở
cả ba cấp và doanh nghiệp và rà soỏt lại tất cả những văn bản và quy
phạm pháp luật để xây dựng một lộ trỡnh cụ thể về hoạt động này là rất
cần thiết.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Chương II:
Cơ hội và thách thức của hiệp định TBT
đối với hàng dệt may VN trước ngưỡng cửa WTO:
1.Tỡnh hỡnh xuất khẩu hàng dệt may VN (từ năm 1994-2000)
1.1.Kim ngạch XN khẩu
Sau khi hiệp định về hợp tác sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may
giữa chính phủ Việt Nam và Liên Xơ cũ được ký kết ngày
19/05/1987,ngành dệt may cụng nghiệp của Việt Nam cú những thay đổi
đáng kể theo hướng sản xuất hàng xuất khẩu nhưng chủ yếu là xuất khẩu
sang các nước trong khối Hội đồng tương trợ kinh tế.Vỡ vậy,trong những
năm 1990-1991,do tác động của những thay đổi về chính trị xó hội ở
những nước này,xuất khẩu hàng dệt may VN suy giảm nghiêm trọng.Tuy
nhiên,ngành dệt may VN đó cú những nỗ lực đáng kể vượt qua giai đoạn
khó khăn này để bước sang giai đoạn phát triển mới từ năm 1992 – mở
rộng thị trường xuất khẩu sang các nước trong khu vực và thế giới.Đặc
biệt là từ sau Hiệp định hàng dệt may ký với EU ngày 15/12/1992 và cú
hiệu lực từ ngày 1/1/1993 xuất khẩu hàng dệt may của VN đó tăng trưởng
nhanh chóng,đưa dệt may trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất nhập
khẩu đứng thứ hai (sau dầu thơ) của VN từ năm 1995 và có kim ngạch
xuất khẩu cao nhất từ năm 1998.Với tốc độ tăng trưởng bỡnh qũn
43,5%/năm trong những năm 1991-1997 so với tốc độ tăng trưởng bỡnh
qũn 27,5%/năm của kim ngạch xuất khẩu của cả nước,kim ngạch xuất
khẩu hàng may chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu.
Tuy nhiờn với trang thiết bị cũn lạc hậu,chủng loại cũn nghốo
nàn,hàng dệt may VN vẫn chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế
giới.Việt Nam mới xuất khẩu được một số loại vải thơ,bải cotton,dệt kim
… sang Nhật,Canada và EU với kim ngạch khơng đáng kể.Sản phẩm dệt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
xuất khẩu của VN tỏ ra chưa có sự phát triển thích ứng với đũi hỏi về chất
lượng,mẫu mó,chủng loại ngày càng cao của thị trường thế giới.
Hàng dệt may VN cũng khơng đáp ứng được u cầu về ngun
liệu cho may xuất khẩu.Hiện nay chúng ta vẫn phải nhập vải may gia
cơng để phục vụ cho may xuất khẩu.Chỉ tính riêng giá trị vải nhập khẩu
đó lờn tới trờn dưới 50% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may,chưa kể đến
các loại phụ liệu may khác mà VN cũng phải nhập khẩu phần lớn từ các
nước th gia cơng.
Việc gia cơng cho nước ngồi khơng những chỉ có giá trị gia tăng
thấp mà cũn khụng ổn định,phụ thuộc vào giá gia cơng và bị động vào
nguồn cung cấp nguyờn vật liệu.Chớnh vỡ vậy,cuộc khủng hoảng kinh tế
khu vực đó ảnh hưởng nghiêm trọng tới xuất khẩu hàng dệt may của
VN.Vỡ vậy kim ngạch xuất nhập khẩu hàng dệt may năm 1998 chỉ đạt
1,35 tỷ USD so với kế hoạch đặt ra là 1,6-1,7 tỷ hồi đầu năm.
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, bốn tháng đầu năm nay xuất
khẩu hàng dệt may đạt 1,744 tỷ USD, tăng 38,7% so với cùng kỳ năm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ngối, là một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
"nóng".
Trong các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục
dẫn đầu, với tổng giá trị gần 432 triệu USD, tăng 35,7% so với cùng kỳ
năm ngối, chiếm 54,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may. Thị
trường EU đạt khoảng 172 triệu USD, Nhật Bản đạt trên 89,5 triệu USD.
Hiện, ngành dệt may được xem là ngành cơng nghiệp có lợi thế của
Việt Nam. Theo quy hoạch điều chỉnh ngành dệt may đến năm 2015, tầm
nhỡn 2020 mới được Bộ Cơng nghiệp xây dựng, thời gian tới dệt may sẽ
được tập trung đầu tư phát triển thành một trong những ngành cơng
nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu.
Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngành dệt may cho giai đoạn từ
nay đến năm 2010 khoảng 3 tỷ USD, trong đó, vốn đầu tư phát triển
ngun phụ liệu dệt khoảng 180 triệu USD; các dự án dệt nhuộm trên 2,
27 tỷ USD; các dự án may 443 triệu USD; các trung tâm thương mại và
nghiên cứu triển khai đào tạo vào khoảng 200 triệu USD.
Số liệu xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang một số nước hết q
I/2006
Tên nước ĐVT Thỏng 3/2006
Trị giỏ (USD)
3 thỏng/2006
Trị giỏ (USD)
Anh USD 17.540.270 46.458.862
Bỉ USD 7.177.647 20.652.031
Canađa USD 6.545.131 19.425.025
Đài Loan USD 15.997.064 36.253.894
CHLB Đức USD 22.969.704 69.294.765
Hà Lan USD 6.028.293 21.652.038
Hàn Quốc USD 7.882.728 18.498.456
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Hồng Kụng USD 1.827.740 5.235.556
Italia USD 3.980.572 13.689.382
Malaysia USD 1.677.040 3.692.845
Mỹ USD 293.945.177 721.959.508
Liờn Bang Nga USD 4.672.683 11.342.465
Nhật Bản USD 57.368.036 147.870.846
ễxtrõylia USD 1.644.220 5.807.841
Phỏp USD 8.230.506 29.277.198
CH Sộc USD 3.664.784 8.451.543
Tõy Ban Nha USD 5.443.131 21.212.859
Thụy Điển USD 1.633.714 4.608.763
Trung Quốc USD 2.637.829 5.294.074
Tổng cộng USD 489.029.801 1.258.290.160
( Nguồn : Trung tâm thơng tin Thương mại )
1.2.Đặc điểm,năng lực của ngành dệt may VN:
Năng lực sản xuất: Theo số liệu của tổng cơng ty dệt may,năng lực
sản xuất của ngành dệt may được đánh giá như sau:
Năng lực sản xuất một số sản phẩm ngành dệt may VN
Chỉ tiờu Đơn vị tính DN trong
nước
DN có vốn đầu
tư nước ngồi
Cộng
Sợi dệt Tấn 72.000 90.000 162.000
Vải lụa Triệu m2 380 420 800
Dệt kim Triệu sp 31 8 39
Hàng may
mặc sẵn
Triệu sp 280 120 400
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Các cơ sở dệt may tập trung chủ yếu vào ở hai khu vực Đồng bằng
sơng Cửu Long và Đơng Nam Bộ - chiếm khoảng 50-60% sản
lượng.Vùng đồng bằng Sơng Hồng và các tỉnh phụ cận chiếm 30-40%
sản lượng.Cũn lại là Vựng Duyờn hải miền trung – khoảng 10% sản
lượng.
Một số sản phẩm chủ yếu: Trong những năm qua tỡnh hỡnh sản
xuất của ngành dệt may đặc biệt là ngành may cơng nghiệp phục vụ xuất
khẩu đó cú những tiến bộ đáng kể.So với năm 1991,sản lượng sợi dệt
năm 1997 tăng 73,7% và sản lượng hàng may mặc tăng 101,1%.Tuy
khơng tăng nhanh bằng sản xuất sợi và hàng may mặc vải,sản lượng vải
lụa các loại cũng tăng 7,1% với sự đóng góp đáng kể của các xí nghiệp có
vốn đầu tư nước ngồi.Trong khi đó,mặc dù có tiềm năng tiêu thụ nội địa
cũng như xuất khẩu cao,sản xuất các sản phẩm dệt kim khơng mấy phát
triển do khơng kịp thời đổi mới về thiết bị và cơng nghệ phù hợp với u
cầu đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Tỡnh hỡnh tăng trưởng giá trị sản xuất: Từ năm 1993,sau khi
ngành dệt may chuyển hướng và mở rộng thị trường giá trị sản lượng
ngành đó tăng vọt.Tuy nhiên tốc độ tăng trương ngành dệt vẫn cũn thấp
làm cho giỏ trị tổng sản lượng ngành dệt may thấp hơn tốc độ gia tăng giá
trị tổng sản lượng tồn ngành cơng nghiệp.Mặt khác sự mất cân đối này
cũng kỡm hóm tục độ phát triển của ngành may mặc do đầu vào của
ngành này phụ thuộc vào ngành dệt.
Về cơ cấu sản phẩm:
Trong những năm gần đây,sản phẩm ngành dệt may đó dần được
đa dạng hóa.Trong khâu sản xuất sợi,tỷ trọng các mặt hàng polyeste pha
bơng được với nhiều tỷ lệ khác nhau tăng nhanh,các loại sợi polyeste
100% cũng bắt đầu được sản xuất,các loại sản phẩm
cotton/visco,cotton/acrylic, wool/acrylic đó bắt đầu được đưa ra thị
trường.Trong khâu dệt vải,nhiều mặt hàng dệt thoi mới chất lượng cao
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đáp ứng được u cầu phục vụ cho may xuất khẩu sang EU và Nhật
Bản.Cơ cấu những sản phẩm may cơng nghiệp đó cú những thay đổi đáng
kể,từ chỗ chỉ may được những loại quần áo bảo hộ lao động,quần áo
thường dùng ở nhà,đồng phục học sinh…đến nay ngành may đó cú những
sản phẩm chất lượng cao,đáp ứng được u cầu của những nhà nhập khẩu
khó tính:quần áo thể thao,đồ jeans.Sản xuất phụ liệu may cũng có những
tiến bộ nhất định vè cả chủng loại và chất lượng.Những sản phẩm như chỉ
khâu Tootal Phong Phú,khóa kéo Nha Trang,mex Việt Phát,bơng thấm
Việt Tiến…đủ tiêu chuẩn chất lượng cho khâu may xuất khẩu tuy sản
lượng cũn thấp.
Bên cạnh đó do thiết bị chun dùng hiện đại cũn ớt,phải dựng
nhiều thao tác thủ cơng nên năng suất của ngành may Việt Nam khá thâp
so với các nước.Thêm vào đó,hệ số sử dụng năng lực thiết bị trong ngành
dệt may rất thấp,chỉ đạt 40-60% năng lưc thiết bị hiện có tùy loại sản
phẩm.
Thị phần hàng dệt may VN: Theo thống kê của WTO cho năm 2002,
thị phần của Việt Nam cho hàng dệt là 67 triệu đơ-la trong Liên hiệp châu
Âu (0,1% kim ngạch nhập khẩu, hạng 35), 4 triệu đơ-la tại Canada (0,1%,
hạng 26) và 84 triệu tại Nhật (1,9%, hạng 9). Về hàng may mặc, thị phần
của Việt Nam là 39 triệu tại Canada (1%, hạng 18), 981 triệu tại Mỹ
(1,5%, hạng 23), 645 triệu trong Liên hiệp châu Âu (0,8%, hạng 19), và
471 triệu (2,7%, hạng 3) tại Nhật. Thành tích của Việt Nam như thế trội
nhất là ở Nhật, nhất là cho hàng may mặc chỉ sau mỗi Trung Quốc và
Liên hiệp châu Âu, và trước cả Mỹ! Phải nói là Nhật là nước phi hạn
ngạch và một trong những bạn hàng đầu tiên của Việt Nam.
Thị trường cho ngành dệt may VN
- Thị trường trong nước: chưa đáp ứng đủ nhu cầu nội địa về số
lượng và chất lượng. Trừ sản lượng vải xuất khẩu (giá trị thấp), số cũn lại
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chưa đủ bỡnh qũn 3m/người/ năm. Đến năm 2010 mức tiêu dùng vải sẽ
tăng gấp 6 lần hiện nay.
- Thị trường nước ngồi: Cơng nghiệp dệt thành phố Hồ Chí Minh
đó thõm nhập vào cỏc thị trường sau đây:
+ Thị trường SNG và các nước Đơng âu: khơng cần quota, u cầu
chất lượng vừa phải phù hợp với trỡnh độ sản xuất của Việt Nam. Mức
tiêu dùng vải ở thị trường này cũn thấp . Đây là thị trường cũn tiềm năng,
Việt Nam có nhiều thuận lợi để thõm nhập .
+ Thị trường EU: Hiệp định hợp tác thương mại và Hiệp định tránh
đánh thuế 2 lần đó ký giữa Việt Nam - EU đó tạo điều kiện cho hàng hóa
Việt Nam xuất khẩu sang EU. Danh mục hàng may mặc xuất khẩu sang
EU rất đa dạng và đang ngày càng mở rộng .
+ Thị trường Mỹ : Xuất hiện ngày càng nhiều những khách hàng rất
lớn đang đến VN để chuẩn bị cho thị trường Mỹ trong thời gian sắp đến.
Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới với mức nhập
khẩu năm 2000 vừa qua là gần 73 tỉ USD. Sau sự kiện 11/09 các đơn
hàng Mỹ ký kết với Trung Đơng đó bị huỷ bỏ và chuyển hướng sang thị
trường Việt Nam. Đây cũng là cơ hội cho ngành dệt may của Việt Nam
thâm nhập thị trường Mỹ.
1.3.Nhận định chung về tỡnh hỡnh xuất khẩu trong q I/2006:
Trong 3 tháng đầu năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của ta sang tất cả các nước ước đạt 1.244 triệu USD, tăng 31,2% so với
cùng kỳ năm 2005, đạt 23,47% kế hoạch năm 2006, trong đó tháng
3/2006, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 450 triệu USD, tăng 47,5% so với
tháng 2/2006 và tăng 28,2% so với cùng kỳ năm 2005. Như vậy, với nhịp
độ tăng trưởng xuất khẩu như hiện nay, dự báo khả năng thực hiện kế
hoạch xuất khẩu 5,3 tỷ USD hàng dệt may trong năm 2006 có thể là hiện
thực.Trong hai tháng đầu năm 2006, xuất khẩu sang các thị trường chủ
yếu tăng trưởng rất tốt:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét