Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
Nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng công ty dệt may Hà Nội
nón v.v. mà còn cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt: lều, buồm, lưới
cá, cần câu, các loại dây nhợ, dây thừng, dây chão, các thiết bị bên trong xe hơi, xe
lửa, máy bay, tàu bè (một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17 kí sợi vải), vòng đai
cua-roa, vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì, và nói chung mọi vật liệu dùng để đóng gói,
bao bọc, để lót, để lọc, để cách nhiệt, cách âm, cách điện, cách thuỷ, và cả những
dụng cụ y khoa như chỉ khâu và bông băng.
Có thể hiểu tại sao ngành dệt may đã đi liền với sự phát triển của các nước
công nghiệp, cùng với sắt thép là hai ngành vừa được ưu tiên thừa hưởng những
phát minh kỹ thuật vừa là động cơ chuyển biến cả nền kinh tế từ thủ công sang công
nghiệp trong thời kỳ cách mạng kỹ nghệ. Điều này cũng giải thích tại sao các nước
công nghiệp vẫn quyết tâm bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh của
các nước nghèo, từ thập niên 1970 trở đi, khi các nước này tập trung xây dựng
ngành này thành trọng điểm của chiến lược phát triển. Và tại sao đó cũng là một
trong những mối tranh chấp căng thẳng từ nhiều năm trong quan hệ thương mại
giữa các nước giàu và nghèo.
1.1.1.2. Ngành dệt may Việt Nam
Ngành dệt may Việt Nam đã có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu đời.
Tù hàng nghìn năm nay người Việt đã biết trồng dâu nuôi tằm, trồng bông, lanh,
gai, đay, và các cây có xơ để kéo sợi, dệt vải làm nguyên liệu cho ngành may mặc
phục vụ cho đời sống hàng ngày và trong tang lễ, hội hè, đình đám. Bằng chứng cho
sự phát triển này là đến này vẫn còn tồn tại nhiều làng nghề truyền thống trên nhiều
vùng đất nước như: lụa Vạn Phúc, khăn Phùng Xá, dệt làng Mẹo, thổ cẩm Mai
Châu… Tuy vậy phải đến cuối thế kỷ XIX ngành dệt may mới manh nha hình thành
và phát triển trong hình hài một ngành công nghiệp
Ngành dệt may Việt Nam có thể chia làm 2 giai đoạn
Giai đoạn từ thời Pháp thuộc đến năm 1975: viên gạch đầu tiên đầu tiên
đặt nền móng cho sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam là sự ra đợi của một
vài xí nghiệp có quy mô sản xuất công nghiệp như công ty bông vải Bắc kỳ tiền
thân của công ty dệt Nam Định ngày nay, xí nghiệp tơ tằm Delignon ở Nam Trung
5
bộ do người Pháp đầu tư và một vài cơ sở dệt kim tư nhân rất nhỏ bé tập trung ở các
thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài Gòn - Chợ Lớn Tuy nhiên
ngành dệt may Việt Nam lúc bấy giờ, dù phát triển rộng khắp ở các đô thị, thị trấn,
vùng quê, nhưng hầu như vẫn sản xuất theo phương thức thủ công, ngành công
nghiệp may sẵn chưa có vị trí đáng kể nào.
Đến năm 1954, hoà bình lập lại ở miền Bắc, chính phủ có chủ trương phát
triển phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi
nhọn nên đã sớm ban hành nhiều chính sách nhằm chấn hưng ngành công nghiệp
non trẻ này. Đó là phục hồi các nhà may do Pháp để lại và khuyến khích các nhà
máy sản xuất trở lại, thành lập các công ty gia công dệt may để khuyến khích, phát
huy và thu mua các sản phẩm dệt may ở các làng nghề thủ công tham gia vào giải
quyết vải tiêu dùng trong nhân dân và xuất khẩu. Đồng thời mở hàng loạt các xí
nghiệp dệt công nghiệp mới của nhà nước với trang thiết bị nhập từ Trung Quốc và
các nước Đông Âu như dệt Nam Định, tơ Nam Định, len Hải Phòng, dệ 8/3, dệt kim
Đông Xuân… và các xí nghiệp địa phương như dệt kim Thăng Long, dệt khăn Minh
Khai… cùng hàng loạt các xí nghiệp may mới ra đời thu hút rất nhiều lao động như
May 10, May Thăng Long, May Chiến Thắng… nhiều xí nghiệp công tư hợ danh,
hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp dệt, may ở các thành phố, thị xã, thị trấn
Toàn ngành công nhiệp và tiểu thủ công nghiệp dệt may miền Bắc, thời kỳ 1945-
1975 đã đáp ứng được nhu cầu về vải cho tiêu dùng, phục vụ đời sống xã hội với
mức bình quân 5 mét vải/ người và hàng năm xuất khẩu hàng trăm triệu sản phẩm
may mặc sang các nước Đông Âu dưới dạng vỏ chăn, áo gối, quần áo bảo hộ lao
động, áo choàng y tế… theo hiệp định hàng đổi hàng được ký giữa chính phủ hai
nước.
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay : đất nước thống nhất, tiếp quản thêm nhiều
xí nghiệp ở miền Nam, ngành dệt may mở rộng tầm quản lý với quy mô to lớn và
cũng đa dạng hơn. Từ sản phẩm thuần chủng bông thiên nhiên, chúng ta đã sản xuất
và xuất khẩu sản phẩm bông pha hỗn hợp, từ sản phẩm may cấp thấp đã dần vươn
lên thành sản phẩm cao cấp hơn như sản phẩm sơ mi thời trang, jacket, quần bò,
6
complet… Với chủ trương đưa ngành dệt may trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
hướng ra xuất khẩu và phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân, vì thế nhà nước vừa
khai thác, phát huy tiềm lực sẵn có, vừa không ngừng mở rộng phát triển vả chiều
rộng lẫn bề sâu
1.1.2. Thực trạng về ngày dệt may hiện nay
Ngày nay, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn hướng ra xuất khẩu và ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu trong
đời sống kinh tế xã hội.
Kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt hàng tỷ USD, chỉ đứng sau ngành dầu
khí về xuất khẩu, tăng trưởng hàng năm luôn trên 20%. Thậm chí năm 2007 dệt may
đã vươn lên vị trí dẫn đầu trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu, vượt qua cả dầu
thô, với kim ngạch đạt 7.75 tỷ USD, tăng 32.8% so với năm 2006, đồng thời lọt vào
top 5 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới và theo dự báo, trong năm nay,
Việt Nam sẽ vượt qua Ấn Độ và Mexico trở thành cường quốc xuất khẩu dệt may
thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc. Thành tựu này là kết quả nỗ lực, phấn đấu không
mệt mỏi của ngành hàng. Đặc biệt, trong đó là những bước đi khôn ngoan khi mở
rộng thị trường và vượt qua những rào cản của thị trường Mỹ. Theo dự báo của
phòng thương mại Việt- Mỹ doanh thu năm 2007 của Việt Nam vào thị trường Mỹ
chiếm đến 43% trong tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm này tại Mỹ. Phải nói đây
là một thắng lợi lớn về kinh tế trong giai đoạn phát triển của ngành dệt may VN,
quan trọng hơn là trong những năm qua ngành dệt may VN đã giải quyết được hàng
chục vạn lao động, góp phần cùng đất nước giải quyết tình trạng thất nghiệp, xoá
đói giảm nghèo, ổn định chính trị và phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, ngành
tiếp tục thu hút nhiều làn sóng đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, các doanh
nghiệp dệt may có vốn đầu tư nước ngoài ước tính chiếm khoảng 25% tổng số các
doanh nghiệp dệt may của cả nước. Dự kiến trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu
của hàng dệt may tiếp tục tăng cao, theo dự đoán khoảng 9,6 tỷ USD nếu biết giữ
vững các thị trường truyền thống như Mỹ- thị trường chiếm 55% tổng kim ngạch
7
xuất khẩu dệt may, EU- thị trường chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu và Nhật
Bản- chiếm 10%, đồng thời tìm kiếm thêm những thị trường mới.
Tuy đã đạt được những thành tựu đáng khen như vậy trong thời gian qua,
ngành dệt may Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Những kết quả trên một phần là do
ngành may, trong khi may phát triển mạnh và được coi là một trong năm nước có
năng lực cạnh tranh thì ngành dệt lại đang bị tụt hậu 20 năm so với thế giới. Đạt
được kim ngạch xuất khẩu lớn như vậy, nhưng hiệu quả xuất khẩu của ngành dệt
may còn thấp do chưa chủ động được nguồn nguyên liệu mà vẫn phải nhập khẩu từ
nước ngoài đến 80%, điều đó cho thấy phần nào năng lực cạnh tranh kém cỏi của
các doanh nghiệp dệt Việt Nam. Trong khi đó, ngành dệt Việt Nam vẫn chủ yếu là
phục vụ thị trường nội địa. Nhưng nếu tình hình này không sớm được cải thiện thì
các doanh nghiệp dệt có khả năng mất chỗ đứng ngay trong thị trường nội địa trong
tương lai gần. Bởi vì có thể so sánh trong khi một nhà máy dệt của Trung Quốc
trung bình có khoảng 6.000 máy dệt thì các doanh nghiệp dệt Việt Nam chỉ có
khoảng vài trăm máy, đa phần là cũ, lạc hậu. Theo ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp
hội Dệt May Việt Nam, khoảng cách về trình độ phát triển giữa ngành Dệt Việt
Nam và các nước khá xa. Nếu xếp theo thang điểm 10, thì ngành Dệt Việt Nam chỉ
đạt khoảng 3-3,5 điểm, chưa đạt mức trung bình của thế giới. Thiết bị lạc hậu dẫn
đến chất lượng vải nội không ổn định, độ bền màu kém, khiến cho khách hàng đặt
may không dám lựa chọn vải nội, buộc các doanh nghiệp may gia công lại phải
nhập khẩu vải từ các công ty nước ngoài. Không chỉ may gia công, ngay cả các
công ty may phục vụ tiêu dùng nội địa cũng không dám mạo hiểm thương hiệu của
mình khi mua vải chất lượng kém để sản xuất những mặt hàng của mình. Điều đó
làm ngành Dệt càng gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, những doanh nghiệp Dệt trong
nước làm ăn được hầu hết đều là các doanh nghiệp tư nhân hoặc liên doanh có vốn
đầu tư nước ngoài. Do vậy việc quan tâm cũng như tìm một hướng đi và nâng cao
sức cạnh tranh cho hàng dệt may, đặc biệt là ngành dệt Việt Nam trong thời gian tới
là một vấn đề hết sức quan trọng.
8
1.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của ngành dệt may Việt Nam trong điều
kiện Việt Nam là thành viên WTO
1.1.3.1 Cơ hội
Trước tiên phải nói đến là trở thành thành viên của WTO, Việt Nam sẽ được
dỡ bỏ hạn ngạch, đồng thời được đối xử bình đẳng với tất cả các quốc gia cũng như
các thị trường khác trên thế giới. Điều bày đặc biệt quan trọng bởi Việt Nam sẽ có
cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu và tăng kim ngạch cũng như mở rộng cơ hội tìm kiếm
thị trường. Cơ hội cũng mở ra khi Việt Nam có điều kiện khai thác một thị trường
rộng lớn và đầy tiềm năng như Mỹ, bởi vì Mỹ sẽ không áp dụng biện pháp tự vệ với
Việt Nam như đã áp dụng khi đàm phán gia nhập WTO với Trung Quốc trước đây
do thoả thuận của hiệp định thương mại Việt - Mỹ.
Bên cạnh đó các rào cản xuất khẩu cũng dỡ bỏ, các doanh nghiệp Việt Nam
không còn phải lo chạy vạy hạn ngạch, cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận với các
thị trường mới mở rộng rất nhiều. Từ chỗ chỉ được xuất khẩu theo hạn ngạch, đến
nay các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu theo năng lực thị trường, doanh
nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện thâm nhập mạnh vào các thị trường nước ngoài.
Dòng đầu tư nước ngoài mới tiếp tục đổ vào Việt Nam, trong đó ngành dệt
may là một trong những ngành thu hút đầu tư mạnh, tiếp tục cải thiện cơ sở hạ tầng
phục vụ cho sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế cũng như ngành dệt
may cơ hội phát triển hơn nữa. Đặc biệt sự phát triển của ngành may sẽ là động lực
tạo điều kiện phát triển theo và thu hút đầu tư vào ngành dệt và nhuộm. Trên cơ sở
đó tiếp tục thu hút một lực lượng lao động lớn góp phần giải quyết việc làm cho xã
hội.
Đồng thời với dòng đầu tư nước ngoài ngành dệt may Việt Nam cũng đón
nhận trình độ quản lý và công nghệ mới tạo điều kiện cải thiện những máy móc
thiết bị đã cũ, lạc hậu và tư duy cũng như công tác quản lý không còn phù hợp với
điều kiện thị trường.
Việc sản xuất kinh doanh cũng nhiều thuận lợi hơn do thuế nhập khẩu
nguyên, phụ liệu giảm và nguồn cung cấp cũng phong phú hơn, tạo điều kiện cho
9
việc giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao sực cạnh tranh của
hàng dệt may Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đồng thời khi là thành viên WTO, với một thị trường rộng lớn và môi trường
kinh doanh năng động và nhiều biến động hơn sẽ cho các doanh nghiệp Việt Nam
cọ sát với thực tế và thích ứng với quy tắc, thông lệ và luật kinh doanh quốc tế.
Những bài học từ các vụ kiện chống bán phá giá sẽ giúp cho các doanh nghiệp có
kinh nghiệm và thực tiễn để đối phó với những sự kiện tiếp theo.
1.1.3.2. Thách thức
Ngành Dệt-May sử dụng một số nguyên phụ liệu chủ yếu như bông xơ, dựa
vào nguồn nhập khẩu là chính. Trong khi đó giá dầu trên thế giới bị biến động do
tình hình chính trị trong một số khu vực trên thế giới không ổn định; hơn nữa với
việc áp thuế nhập khẩu cho mặt hàng xơ polyester để bảo vệ và kích thích sản xuất
trong nước của Chính phủ, làm cho giá nhập xơ cao, trong khi sản xuất trong nước
về bông, xơ không đáp ứng được nhu cầu (đáp ứng bông khoảng 5%, xơ tổng hợp
khoảng 30%), cho nên các doanh nghiệp vẫn phải nhập để đảm bảo sản xuất.
Các doanh nghiệp sản xuất Dệt-Nhuộm chưa có hiệu quả, đặc biệt là chưa
làm chủ được kỹ thuật, làm chất lượng vải không ổn định. Vì vậy, chưa được khách
hàng tiêu thụ sản phẩm may đánh giá để có thể trở thành nhà cung cấp vải cho các
doanh nghiệp may gia công trong nước chứ chưa nói đến việc gia tăng xuất khẩu vải
(vải đáp ứng: dệt kim khoảng 60%, dệt thoi khoảng 30%). Cũng chính vì thế mà
khách hàng Mỹ thường chỉ định nhà cung cấp vải từ nước ngoài (như Trung Quốc,
Ấn Độ, Đài Loan, ) để cung cấp cho các doanh nghiệp may.
Không thể không nói đến là sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn khi
Việt Nam ngày một hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Trong thời gian tới
Việt Nam sẽ mở cửa thị trường sâu hơn, do đó việc các “đại gia” dệt may trên thế
giới cùng nhảy vào sẽ tạo ra một cuộc cạnh tranh khốc liệt và không loại trừ khả
năng các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phá sản hàng loạt. Đặc biệt là hàng Trung
Quốc khi không phải chịu thuế nhập khẩu thì sẽ là thách thức lớn đối với các doanh
nghiệp Việt Nam trong việc cạnh tranh không chỉ trên thị trường nội địa, như vậy
10
không chỉ các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp lớn cũng phải lao đao. Khi
những sự hỗ trợ và bảo hộ của chính phủ không còn, đồng thời thị trường bị chia sẻ
cho các doanh nghiệp nước ngoài, sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam
trong việc khẳng định vị trí và phát triển.
Đồng thời, một vấn đề cần đặc biệt lưu ý là kiện bán phá giá đối với hàng dệt
may Việt Nam, đây không phải là nguy cơ mà đã đang và sẽ đe doạ các doanh
nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này. Các thi trường mở rộng nhưng nguy cơ tiềm
tàng trong đó cũng không phải là ít. Từ ngày 11/1/2007, hàng dệt may Việt Nam
không còn phải chịu hạn ngạch khi xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, nhưng dưới áp
lực của các nhà sản xuất dệt Hoa Kỳ, Bộ Thương Mại nước này đã đưa ra một rào
cản mới, đó là việc xây dựng cơ chế giám sát nhập khẩu và tự khởi động điều tra
chống bán phá giá hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Điều này đã gây
ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh khi thị trường Mỹ chiếm đến trên
50% thị phần xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam. Nhiều nhà nhập khẩu lớn dè
dặt khi đặt hàng tại Việt Nam, thậm chí rút đơn hàng khỏi Việt Nam trong những
tháng đầu năm và trong quý III/2007. Nhiều công ty không dám đầu tư mở rộng sản
xuất do sợ rủi ro. Mặc dù Bộ Thương mại Mỹ đã công bố chính thức chưa tìm thấy
bất cứ dấu hiệu cho thấy ngành dệt may Việt Nam bán phá giá vào thị trường Mỹ,
nhưng bộ Thương Mại Mỹ thông báo vẫn tiếp tục thực hiện cơ chế giám sát cho đến
hết 2008.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng sẽ phải cạnh tranh với nhau để tìm kiếm
nguồn lao động phù hợp trong tình trạng biến động lao động như hiện nay. Doanh
nghiệp sẽ phải đối phó và giải quyết với tình trạng đình công của người lao dộng
như đã xảy ra trong năm 2007 vừa qua.
Ngoài ra, các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng gia
công, nguyên, phụ liệu nhập khẩu quá cao và nhiều, do đó giá trị thực xuất khẩu
chưa cao. Việc cạnh tranh và khẳng định vị thế về chỗ đứng và thương hiệu là một
trong những thách thức với Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã và đang chuyển
hướng sang kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cao cấp. Đây cũng là một hướng đi
11
mới và hợp lý trong bối cảnh hiện nay. Tuy vậy, việc xây dựng một thương hiệu cho
hàng hoá Việt Nam vẫn còn là đòi hỏi lâu dài. Khi đã xây dựng và khẳng định được
thương hiệu của mình, chỗ đứng cho hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới sẽ
được công nhận. Đồng thời khâu thiết kế cũng là một trong những vấn đề cần được
quan tâm trong thời gian tới. Ngành dệt may Việt Nam muốn có có một vị thế mới
không thể không thực hiện tốt khâu thiết kế này. Trong khi các doanh nghiệp nước
ngoài, đặc biệt quan tâm đến vấn đề này thì các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa
có những đầu tư đúng mực và chưa giải quyết được vấn đề thiết kế sản phẩm. Chỉ
một số doanh nghiệp, cá nhân có những tiếng nói nhất định trong thiết kế trên thị
trường thế giới như Lê Minh Khoa ở Hồng Kông, Việt Hùng ở Mỹ và Canada,
Minh Hạnh ở Pháp… Đây chính là một trong những khó khăn thách thức của doanh
nghiệp Việt Nam, nếu không đầu tư cho thiết kế mẫu mã sản phẩm mới, thì không
chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay tại sân nhà, thị trưòng Việt Nam các doanh
nghiệp cũng không tìm được chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng.
1.2. Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
1.2.1. Cạnh tranh
1.2.1.1. Khái niệm
Có thể nói cạnh tranh chính là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh đã được
các nước trên thế giới thừa nhận và coi như là một môi trường, là động lực thúc đẩy
nền kinh tế phát triển, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
và góp phần lành mạnh hoá các quan hệ xã hội trong nền kinh tế thị trường.
Vì vậy, cạnh tranh được hiểu theo nghĩa chung là sự tranh đấu giữa các chủ
thể tham gia hoạt đọng kinh tế nhằm tối đa hoá lợi ích của mình. Theo nghĩa hẹp,
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được hiểu là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các
nhà sản xuất kinh doanh nhằm giành giật những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi
nhất để thu được lợi ích tối đa. Cạnh tranh gắn liền với cơ chế thị trường và trở
thành quy luật kinh tế đặc thù của nền kinh tế thị trường. Khi chuyển sang nền kinh
12
tế thị trường , chúng ta thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh
tế bao gồm, kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư
nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Có thể nói
nguồn gốc nảy sinh cạnh tranh là mâu thuẫn giữa tính chất tư nhân và tính chất xã
hội của lao động sản xuất hàng hoá cũng như sự độc lập và tách biệt về lợi ích giữa
các chủ thể kinh tế - sản phẩm của cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế
hoạt động. Khác với nền kinh tế tập trung, mọi hoạt động sản xuất và tiêu thụ đều
theo kế hoạch, được hoạch định từ trên xuống, từ cấp quốc gia đến các bộ ngành và
các doanh nghiệp cụ thể. Ngược lại, trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một sản
phẩm nào đưa ra đều phải chịu một sức cạnh tranh nhất định, bởi vì ở đó có nhiều
doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất một mặt hàng, việc sản xuất tiêu thụ phải tuân
theo các quy luật của kinh tế thị trường. Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm mọi cách
để cạnh tranh với nhau để làm sao tiêu thụ được hết sản phẩm của mình đồng thời
thu được lợi nhuận cao nhất. Với cơ chết thị trường các doanh nghiệp phải chủ động
trong sản xuất kinh doanh từ khâu cung ứng nguyên liệu phụ kiện, tổ chức sản xuất
đến việc tiêu thuh sản phẩm nhằm tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, nâng cao chất
lượng sản phẩm để khả năng cạnh tranh cao, đem lại hiệu quả kinh tế cho doanh
nghiệp mình. Do đó mức độ và tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày
một đa dạng và gay gắt hơn.
1.2.1.2. Vai trò của cạnh tranh
Đối với nền kinh tế quốc dân: cạnh tranh là một trong những điều kiện quan
trọng để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại
hoá nền sản xuất xã hội, tiết kiệm thời gian và tăng năng suất lao động xã hội, cho
phép sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất và phục vụ ngày càng tốt nhu cầu đa
dạng và phong phú của người tiêu dùng. Cạnh tranh lành mạnh cho phép tự phát
duy trì những cân đối của nền kinh tế và là môi trường, động lực thúc đẩy sự phát
triển bình đẳng cùng có lợi của mọi thành phần kinh tế, không phân biệt các loại
hình doanh nghiệp, qua đó góp phần xoá bỏ dần những đặc quyền không nên có và
xoá bỏ những bất bình đẳng trong kinh doanh.
13
Đối với doanh nghiệp: cạnh tranh quyết định sự tồn tại, phát triển hay phá
sản của một doanh nghiệp, bởi cạnh tranh tác động trực tiếp tới quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm. Một doanh nghiệp được xem là có khả năng cạnh tranh khi nó
có thể đứng vững và thực hiện việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong điều kiện
môi trường kinh doanh mở.
Cạnh tranh tạo ra môi trường, động lực phát triển, thúc đẩy mỗi doanh
nghiệp nghiên cứu, tìm tòi, áp dụng các biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
Cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trong thị trường thông qua tỷ
lệ thị phần mà doanh nghiệp nắm giữ, đồng thời nó quyết định uy tín của doanh
nghiệp trên thị trường.
Do cạnh tranh tạo ra một áp lực liên tục đối với giá cả nên buộc các doanh
nghiệp phải nhạy bén với nhu cầu luôn biến đổi của thị trường, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ để cải tiến phương pháp
quản lý sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp sản phẩm ngày một tốt hơn, chất lượng
tốt hơn và giá rẻ hơn cho thị trường.
Đối với người tiêu dùng: trong nền kinh tế thị trường, khách hàng là
“thượng đế”, là người có quyết định tối cao trong hành vi tiêu dùng. Nhờ cạnh
tranh, người tiêu dùng có thể nhận được hàng hoá và dịch vụ ngày càng phong phú,
đa dạng với chất lượng cao hơn và giá cả phù hợp hơn. Cạnh tranh làm cho người
tiêu dùng thực sự được tôn trọng, thúc đẩy và nâng cao việc các doanh nghiệp đảm
bảo và làm thoả mãn người mua hàng.
1.2.2. Các lý thuyết về năng lực cạnh tranh
1.2.2.1. Lý thuyết về môi trường bên ngoài - môi trường vĩ mô ( PEST )
Kinh tế: Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng
đến thành công và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhân tố kinh
tế chủ yếu ảnh hưởng đến doanh nghiệp là tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát…
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét