Còn khái niệm thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” của đô thị dùng để chỉ các
công trình có ý nghĩa nền móng của đô thị như: đường sá, cầu cống,
hệ thống cấp thoát nước, dịch vụ xã hội (dịch vụ công)… của đô thị.
2. Phân loại và chức năng của từng loại kết cấu hạ tầng đô thị
a. Phân loại
Tùy theo cách căn cứ mà chúng ta có thể phân kết cấu hạ tầng đô thị
ra thành các loại khác nhau như sau:
- Xét về tính chất ngành cơ bản có thể phân ra như sau:
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị
Kết cấu hạ tầng dịch vụ xã hội đô thị
- Về tính chất phục vụ có thể phân ra như sau:
Kết cấu hạ tầng đô thị phục vụ sản xuất vật chất
Kết cấu hạ tầng đô thị phục vụ về nhu cầu văn hóa tinh
thần
- Về trình độ phát triển có thể phân ra:
Kết cấu hạ tầng đô thị phát triển cao
Kết cấu hạ tầng đô thị phát triển trung bình
Kết cấu hạ tầng đô thị phát triển thấp
- Về quy mô đô thị có thể phân ra:
Kết cấu hạ tầng siêu đô thị
Kết cấu hạ tầng đô thị cực lớn
Kết cấu hạ tầng đô thị lớn
Kết cấu hạ tầng đô thị trung bình
Kết cấu hạ tầng đô thị nhỏ
5
b. Chức năng
Để thấy rõ được chức năng của từng loại kết cấu hạ tầng, chúng ta sẽ
xem xét theo cách phân loại thứ nhất đã nói ở trên: Kết cấu hạ tầng
kỹ thuật; Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị; Kết cấu hạ tầng dịch
vụ xã hội đô thị.
- Công trình hạ tầng kỹ thuật là các cơ sở hạ tầng dành cho dịch vụ
công cộng như giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, rác thải,…
Các công trình này thường do các tập đoàn của Chính phủ hoặc tư
nhân, thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở hữu công. Ví dụ về các công
trình hạ tầng kỹ thuật:
Hệ thống điện
Hệ thống lọc và phân phối nước ăn
Hệ thống xử lý nước thải
Hệ thống xử lý rác thải
Hệ thống phân phối khí đốt
Giao thông công cộng và hệ thống giao thông nội bộ
Các hệ thống truyền thông, chẳng hạn truyền hình cáp
và điện thoại
Hệ thống đường xá, bao gồm cả đường thu phí
Các công trình hạ tầng kỹ thuật cung cấp và bảo đảm năng lượng cho
thành phố; cung cấp nước sạch để phục vụ dân cư sinh hoạt; xử lý
các vấn đề về môi trường như rác thải, khí đốt và nước thải sinh hoạt;
xây dựng hệ thống giao thông nội bộ phục vụ nhu cầu đi lại, các khu
vực đỗ xe và gửi xe; là đầu mối thông tin giữa khu đô thị với bên
ngoài.
6
- Công trình hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị là các công trình được xây
dựng phục vụ các hoạt động kinh tế và đời sống xã hội nhằm mục
đích tạo động lực cho kinh tế - xã hội ổn định và phát triển. Các công
trình này được phân chia thành hai loại là công trình dành cho hạ
tầng kinh tế và công trình dành cho hạ tầng xã hội.
Các công trình hạ tầng kinh tế như:
Các trung tâm thương mại, văn phòng và cao ốc cho
thuê cho các đơn vị và các doanh nghiệp đăng ký để
kinh doanh, buôn bán.
Các công trình hạ tầng giao thông có liên quan đến hoạt
động kinh tế như hệ thống cảng biển, tàu và các phương
tiện vận chuyển,… đảm bảo giao thông thông suốt, đảm
bảo vận tải hàng hoá và hành khách trong khu đô thị và
giữa đô thị mới với các vùng bên ngoài.
Hệ thống công trình hạ tầng xã hội được xây dựng để phục vụ cộng
đồng có ý nghĩa xã hội hơn là kinh tế nhằm nâng cao đời sống cộng
đồng nơi đó, các công trình trong hệ thống hạ tầng xã hội bao gồm:
Các công trình như y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao,
thương mại, cây xanh, công viên, mặt nước.
Dịch vụ công cộng: phòng cháy chữa cháy, bệnh viện,
nhà trẻ, đồn công an,…
Một số công trình khác.
- Công trình hạ tầng dịch vụ là những công trình mang lại cho người
dân sinh sống tại đó những giá trị và tiện ích trong sinh hoạt hàng
7
ngày của cư dân đô thị. Các công trình trong hạ tầng dịch vụ cũng có
một số dạng dịch vụ đan xen với hệ thống công trình hạ tầng kinh tế -
xã hội và hạ tầng kỹ thuật. Tuỳ theo cách tiếp cận mà chúng ta có
cách hiểu khác nhau và phân loại chúng theo mỗi cách tiếp cận.
Các công trình hạ tầng dịch vụ bao gồm:
Dịch vụ bưu điện: Bưu chính - phát hành báo chí; Viễn
thông – tin học; Mạng viễn thông
Điện năng: Nguồn điện, hệ thống lưới điện
Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt cho các cơ sở sản
xuất và các hộ gia đình, các đơn vị cơ quan hành chính
và sự nghiệp trong khu vực
Hệ thống y tế: Các công ty hoặc các đơn vị cung cấp các
sản phẩm trong ngành dược, y tế; Các phòng khám tư
nhân; Hệ thống bệnh viện và trung tâm chăm sóc sức
khoẻ và các trung tâm thẩm mỹ
Hệ thống ngân hàng: Cung cấp các dịch vụ gửi và cho
vay tiền tạo ra sự thuận tiện và an toàn, nâng cao tính
hiệu quả và tiết kiệm cho bên tham gia sử dụng dịch vụ
này
Hệ thống bảo hiểm: Đưa ra các dịch vụ về bảo vệ cho tài
sản và tính mạng của con người, có ý nghĩa rất tích cực
Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ
Một số nhà thi đấu và luyện tập chính
Sân vận động, bể bơi, các câu lạc bộ và nhà văn hoá, rạp
chiếu bóng, sân tennis,…
8
Điểm vui chơi giải trí – du lịch: Công viên cây xanh,
công viên nước
An ninh đô thị
Công tác phòng cháy chữa cháy
Trung tâm điều hành các công trình hạ tầng dịch vụ
3. Sự tác động của yếu tố kết cấu hạ tầng tới các vấn đề kinh tế - xã hội
và tầm quan trọng của việc quản lý kết cấu hạ tầng
3.1.Sự tác động của yếu tố kết cấu hạ tầng tới các vấn đề kinh tế - xã hội
- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đang quá tải và đang là trở lực đối với
phát triển kinh tế và quy mô dân số. Nếu vấn đề này không tập trung
giải quyết tốt và phát triển phù hợp với quy mô và cơ cấu kinh tế thì
không thể đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững và hiệu quả
được. Thành phố không thể giải quyết bài toán phát triển một cách
riêng lẻ, đặc biệt là đối với các vấn đề như quy hoạch các khu công
nghiệp, giải quyết giao thông, thoát nước, xử lý môi trường…
- Bản thân kết cấu hạ tầng cũng đã trở thành một ngành xuất khẩu, tạo
ra những khoản tiền khổng lồ cho các công ty và nhân viên các công
ty sở hữu và vận hành kết cấu hạ tầng cung cấp các dịch vụ vận tải,
nước uống, năng lượng và đổ rác cho một hệ thống khách hàng phân
tán và đôi khi rất miễn cưỡng phải mua dịch vụ.
- Các cộng đồng địa phương ngày càng phản đối sự tồn tại của các
phương tiện kết cấu hạ tầng, ngay cả khi các phương tiện này cải
thiện đáng kể dịch vụ cung cấp cho cộng đồng. Kết cấu hạ tầng phải
nhờ đến các thị trường tài chính, mà các thị trường tài chính ngày
9
càng mang tính toàn cầu hóa, do vậy những vấn đề thanh toán từng
được coi là của địa phương đã lan rộng thành những vấn đề quốc tế.
- Sự phát triển của thành phố trong quá trình công nghiệp hóa là quá
trình tự thân. Nhà nước tổ chức bước đầu, sau đó, chính thành phố tự
lớn lên. Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, công nghiệp và dịch
vụ thu hút về tập trung ở thành phố do cơ sở hạ tầng thuận lợi, dịch
vụ phát triển và nguồn nhân công chất lượng cao. Kinh tế tăng
trưởng nhanh hơn tạo nên khác biệt rõ rệt về thu nhập và mức sống
giữa đô thị với nông thôn. Đến giai đoạn sau, khi giá lao động, giá
đất đai, vốn liếng ở đô thị cao hơn hẳn, cơ chế thị trường tiếp tục hút
mọi nguồn tài nguyên toàn quốc chảy về đô thị.
- Chúng ta làm thế nào để giải quyết những vấn đề nội tại và dường
như là không thể tránh khỏi - giữa việc đáp ứng quyền lợi cá nhân
với việc phục vụ lợi ích tập thể, giữa việc đáp ứng nhu cầu trước mắt
với việc cung cấp cho các thế hệ mai sau, hoặc giữa việc duy trì để sử
dụng hàng ngày với việc bảo dưỡng để các công trình đảm bảo độ an
toàn mà không bị xuống cấp. Đó là một bài toán mà hiện nay chúng
ta đang đi tìm đáp số.
3.2.Tầm quan trọng – ý nghĩa của việc quản lý kết cấu hạ tầng
Sự phát triển các ngành của kết cấu hạ tầng đô thị có ảnh hưởng
trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và
việc nâng cao hiệu quả của nó.
Có hai cách mà kết cấu hạ tầng đóng góp vào phát triển công nghệ
ở hầu hết tất cả các ngành kinh tế. Một là, kết cấu hạ tầng phục vụ vai
trò là nền tảng cho phát triển công nghệ và việc xây dựng nó trên
thực tế là sự đầu tư cho công nghệ và tổ chức. Hai là, quá trình phát
10
triển kết cấu hạ tầng tạo cơ hội để học tập nâng cao trình độ công
nghệ. Việc sáng tạo và phổ biến công nghệ có được thực hiện hay
không là dựa trên cơ sở sự có sẵn của kết cấu hạ tầng. Nếu không có
đủ kết cấu hạ tầng thì không thể có những ứng dụng tiếp theo để phát
triển công nghệ. Ví dụ, điện năng, mạng giao thông và kết cấu hạ
tầng truyền thông là những nhân tố cơ bản phục vụ cho nỗ lực hoàn
thiện các năng lực khoa học và công nghệ (KH&CN). Sự tiến bộ của
công nghệ thông tin và sự phổ biến nhanh chóng của nó trong những
năm gần đây có thể đã không diễn ra nếu thiếu kết cấu hạ tầng viễn
thông cơ bản, chẳng hạn như điện thoại, hệ thống cáp nối và mạng vệ
tinh. Các hệ thống thông tin điện tử dựa vào kết cấu hạ tầng viễn
thông chiếm tỷ lệ đáng kể trong sản xuất và phân phối ở các ngành
kinh tế. Nhiều doanh nghiệp công nghệ cao, chẳng hạn như ở ngành
công nghiệp bán dẫn, đòi hỏi phải có nguồn cung cấp điện tin cậy và
mạng lưới logistic (hậu cần) hiệu quả. Các mạng giao thông và
logistic hiệu quả cũng cho phép các doanh nghiệp chế tạo và dịch vụ
áp dụng những quy trình quản lý hiện đại và đổi mới tổ chức, chẳng
hạn như phương pháp JIT (Just-in-Time, tức là nền sản xuất được
cung ứng vào đúng những thời điểm cần thiết, không cần kho chứa)
để quản lý chuỗi cung ứng. Hệ thống đổi mới nhấn mạnh mối liên kết
giữa các doanh nghiệp, tổ chức giáo dục và Viện nghiên cứu và
Chính phủ. Điều này không thể thực hiện được nếu thiếu kết cấu hạ
tầng để hỗ trợ và tạo thuận lợi cho các mối liên kết. Đặc biệt là ở kỷ
nguyên toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức, chất lượng và vấn đề
đảm bảo chức năng của kết cấu hạ tầng thông tin và truyền thông,
cũng như kết cấu hạ tầng logistic trở nên có vai trò quan trọng trong
việc phát triển các tổ chức nghiên cứu và hàn lâm.
11
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, tầm quan trọng
của kết cấu hạ tầng đô thị đang ngày càng được đẩy lên cao hơn. Sự
phát triển và hình thành các hình thức mới về giao thông vận tải và
thông tin liên lạc không những trong khuôn khổ từng nước mà còn
bước ra ngoài khuôn khổ của từng nước, tiến đến phạm vi quốc tế
theo xu hướng toàn cầu hoá.
Do vậy, hình thành kết cấu hạ tầng cơ sở của sự hợp tác quốc tế
mới, đó là toàn bộ các bộ phận của hệ thống giao thông vận tải và
thông tin liên lạc trong nước và nước ngoài, nhằm phục vụ cho hoạt
động kinh tế đối ngoại cũng như các công trình và tương đối phù hợp
với nhau, đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường xung quanh, sử dụng
hợp lý nguồn tài nguyên nước và các nguồn tài nguyên khác, đảm
bảo thông tin liên lạc của các cơ quan khí tượng thuỷ văn, quản lý
nhà nước, các cơ quan phục vụ xã hội và an ninh quốc phòng… nhằm
mục đích phát triển dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn
minh.
Việc quản lý và phát triển kết cấu hạ tầng một cách khoa học và
hợp lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì kết cấu hạ tầng là cơ sở
nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững của cả một hệ thống đô thị
quốc gia nói riêng và sự phát triển bền vững của một quốc gia nói
chung. Một quốc gia giàu mạnh, hiện đại và văn minh phải có một
kết cấu hạ tầng đô thị vững mạnh, tiện lợi.
4. Nguyên tắc thực hiện quản lý và nội dung công tác quản lý kết cấu
hạ tầng đô thị
4.1. Nguyên tắc thực hiện quản lý
12
- Phân cấp để quản lý
Kết cấu hạ tầng đô thị thực chất là một loại hàng hoá công cộng
có tầm quan trọng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc trưng của loại
hình này là khó thu được tiền hoặc lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn
dài nên rủi ro lớn (như tiền mặt mất giá, chính sách thay đổi, thiên
tai, địch hoạ, công nghệ lạc hậu…) và thường do Nhà nước đảm
nhận.
Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và điều chỉnh để đảm bảo cung
cấp các dịch vụ kết cấu hạ tầng, đảm bảo nhu cầu cuộc sống của nhân
dân, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất và làm dịch vụ của các
doanh nghiệp, đảm bảo cho dịch vụ đó có được một cách kịp thời, đủ
số lượng và chất lượng cần thiết với giá cả thích hợp. Đây là vai trò
của Nhà nước tác động trực tiếp vào khâu quản lý để điều tiết nền
kinh tế trong sự phát triển bền vững.
Tuy nhiên, Chính phủ cũng có khả năng hạn chế trong quản lý và
nguồn tài chính phát triển kết cấu hạ tầng đô thị. Do đó Chính phủ
cũng tạo điều kiện và mở rộng chức trách cho khu vực kinh tế tư
nhân và cộng đồng tham gia thực hiện các quyền dân chủ quản lý,
thực hiện nghĩa vụ đóng góp và thu hút mọi nguồn vốn, tăng thêm
hiệu quả quản lý và phát triển kết cấu hạ tầng đô thị của quốc gia.
Phân cấp quản lý là sự phân định và xếp hạng các đô thị theo quy mô,
vị trí hay tầm quan trọng của từng đô thị trong phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, của vùng hay địa phương để từ đó xác định các
chính sách quản lý, đầu tư thích hợp. Ở nước ta, trên cơ sở phân loại,
đô thị được phân cấp quản lý hành chính Nhà nước như sau:
Đô thị loại 1 và loại 2 chủ yếu do Trung ương quản lý.
Đô thị loại 3 và loại 4 chủ yếu do Tỉnh quản lý.
13
Đô thị loại 5 chủ yếu do Huyện quản lý.
Giữa phân loại và phân cấp quản lý có mối quan hệ chặt chẽ.
Nguyên tắc chung là dựa vào phân loại để phân cấp quản lý. Đây là
một trong những giải pháp có tính nguyên tắc nhằm phân định chức
năngvà quyền hạn quản lý của chính quyền các cấp cho thích hợp,
tránh sự trùng chéo hoặc bỏ sót.
- Tiết kiệm và hiệu quả
Sự hình thành và phát triển, quy mô và định hướng phát triển của
các đô thị nói chung phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể không gian đô
thị. Quy hoạch tổng thể không gian đô thị chỉ được thực hiện có hiệu
quả khi kết cấu hạ tầng đô thị được xây dựng đồng bộ và đi trước một
bước.
Nguyên tắc này xuất phát từ thực tiễn sự tăng trưởng kinh tế phát
sinh nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng đô thị với một quy mô lớn -
nhất là trong xu thế bùng nổ đô thị hoá toàn cầu với một tốc độ
choáng ngợp. Thực tiễn này, đã gây ra hệ quả phát sinh ngày càng
gay gắt, trực tiếp có ảnh hưởng về lâu dài là toàn bộ hệ thống giao
thông trong và xuyên các trung tâm kinh tế đô thị hoá, hệ thống điện
gia dụng và công nghiệp, nước sạch cho các hộ gia đình và sản xuất,
hệ thống thu gom và xử lý các chất thải rắn và lỏng, kho tang, bến
cảng đều bị sử dụng quá tải nhưng không được đầu tư nâng cấp và
mở rộng thoả đáng khả dĩ đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế và
phát triển xã hội.
Ở Việt Nam, điều này càng trở nên gay gắt và cấp bách hơn, do
nhu cầu phát triển sau Đổi mới và việc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh
tế để giải quyết vấn đề nghèo khổ thâm niên, xoá đói giảm nghèo và
sự nghiệp phát triển công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước; ngoài
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét