Luận văn tốt nghiệp
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại,
từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định.
Chi phí sản xuất kinh doanh có thể được phân theo nhiều tiêu thức khác
nhau tùy thuộc vào mục đích và yêu cầu của công tác quản lý. Tuy nhiên, về
mặt hạch toán, chi phí thường được phân theo các tiêu thức sau:
1.2.1.2.1 Phân theo yếu tố chi phí
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban
đầu đồng nhất với của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát
sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Cách phân chia này tạo điều kiện thuận
lợi cho việc xây dựng và phân tích mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm
tra và phân tích dự toán chi phí. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ
chi phí được chia làm 7 yếu tố:
- Yếu tố chi phí nguyên vật liệu.
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất –
kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ.
- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền.
1.2.1.2.2 Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho
việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân chia theo khoản mục.
- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí sử dụng máy thi công: chi phí sử dụng máy thi công bao gồm
chi phái thường xuyên và chi phí tạm thời
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
5
Luận văn tốt nghiệp
+ Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công gồm: lương chính, lương
phụ của công nhân điều khiển máy, phụ vụ máy ; chi phí vật liệu; chi phí
công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí
khác bằng tiền.
+ Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công gồm: chi phí sửa chữa lớn
máy thi công; chi phí công trình toạm thời cho máy thi công…
- Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sản xuất của đội, công trường
xây dựng.
- Chi phí bán hàng: gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc
tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ trong kỳ.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm toàn bộ các khoản chi phát sinh
liên quan đến quản trị kinh doanh và quản lý hành chính trong phạm vi toàn
doanh nghiệp mà không tách được cho bất kỳ hoạt động hay phân xưởng nào.
1.2.1.2.3 Phân loại theo quan hệ chi phí với khối lượng công việc hoàn thành
- Biến phí: là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối
lượng công việc hoàn thành. Nhưng biến phí đơn vị sản phẩm có tính ổn định
khi khối lượng sản phẩm thay đổi.
- Định phí: là những chi phí không thay đổi về tổng số so với khối
lượng công việc hoàn thành trong phạm vi giới hạn công suất thiết kế. Định
phí tính cho đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi.
- Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm yếu tố biến
phí và định phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc
điểm của định phí, quá mức đó nó sẽ thể hiện các đặc điểm của biến phí.
1.2.1.2.4 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí phát sinh có liên quan đến trực tiếp
đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, cấu thành thực thể công trình, hạng mục
công trình. Loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí. Chi
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
6
Luận văn tốt nghiệp
phí trực tiếp căn cứ vào chứng từ gốc để tập hợp cho từng công trình, hạng
mục công trình nên ít gây ra sự sai lệch thông tin chi phí ở từng bộ phận, từng
quá trình sản xuất kinh doanh.
- Chi phí gián tiếp: là chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi
phí bao gồm: tiền lương cán bộ quản lý, các chi phí liên quan đến phục vụ sản
xuất của toàn doanh nghiệp. Chi phí này không thể căn cứ vào chứng từ gốc
để tập hợp cho từng công trình, hạng mục công trình mà phải tập hợp riêng
sau đó phân bổ cho các công trình, hạng mục công trình theo tiêu chuẩn thích
hợp. Do đó, dễ dẫn đến những sai lệch chi phí trong từng bộ phận, từng quá
trình sản xuất kinh doanh và cũng dẫn đến những quyết định khác nhau.
1.2.2 Giá thành và phân loại giá thành
1.2.2.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí
về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất có
liên quan đến khối lượng xây lắp đã hoàn thành.
Giá thành luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có của nó là chi phí
sản xuất chi ra và giá trị khối lượng sản phẩm thu được cấu thành trong khối
lượng sản phẩm, công việc hoành thành. Giá thành sản phẩm chính là sự dịch
chuyển giá trị của những yếu tố chi phí bên trong nó, còn chi phí là cơ sở để
hình thành nên giá thành.
1.2.2.2 Phân lại giá thành
1.2.2.2.1 Phân theo thời điểm và nguồn số liệu tính giá thành
Giá thành dự toán: là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng
xây lắp công trình. Giá thành dự toán được xác định theo định mức và khung
giá quy định áp dụng cho từng vùng, lãnh thổ. Dựa vào giá trị dự toán ta có
thể tính được giá thành dự toán của công trình:
Giá thành dự toán = Giá trị dự toán - Lợi nhuận dự toán
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
7
Luận văn tốt nghiệp
Giá thành dự toán làm căn cứ cho doanh nghiệp xây lắp xây dựng kế
hoạch xây lắp vì đây là hạn mức chi phí cao nhất mà doanh nghiệp có thể chi
trả để đảm bảo có lãi và là tiêu chuẩn phấn đấu hạ định mức thực tế. Đồng
thời nó cũng dùng để các cơ quan quản lý nhà nước giám sát hoạt động của
các doanh nghiệp.
Giá thành kế hoạch: là giá thành xác định xuất phát từ những điều kiện
cụ thể ở mỗi đơn vị xây lắp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn
giá áp dụng trong đơn vị. Giá thành kế hoạch phải nhỏ hơn hoặc bằng giá
thành hợp đồng nên nó là mục đích phấn đấu của doanh nghiệp trong việc hạ
giá thành, nâng cao trình độ, năng lực quản lý sản xuất của doanh nghiệp. Mối
liên hệ giữa giá thành kế hoạch và giá thành dự toán:
Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán - Mức hạ giá thành
Giá thành thực tế: là toàn bộ chi phí thực tế để hoàn thành bàn giao
khối lượng xây, lắp mà đơn vị đã nhận thầu, giá thành thực tế được xác định
theo số liệu kế toán.
Giá thành thực tế chỉ được xác định sau khi công trình hoàn thành hoặc
đạt điểm dừng kỹ thuật hợp lý. Nó là chỉ tiêu phản ánh kết quả phấn đấu của
doanh nghiệp trong việc tổ chức thi công, hạ giá thành sản phẩm và là cơ sở
đẻ xác định lãi, lỗ doanh nghiệp thu được đối với từng công trình.
1.2.2.2.2 Phân theo phạm vi phát sinh chi phí
- Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí liên quan
đế việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất.
- Ở doanh nghiệp xây lắp, giá thành sản xuất bao gồm chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công và chi phí
sản xuất chung.
- Giá thành tiêu thụ: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí liên
quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
8
Luận văn tốt nghiệp
Giá thành
tiêu thụ
=
Giá thành sản
xuất
+ Chi phí BH + Chi phí QLDN
1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Đây là hai mặt của một quá trình thống nhất – quá trình sản
xuất bao gồm mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giống nhau về chất. Chúng đều
bao gồm các chi phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp
bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau về mặt lượng.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống và lao động
vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất của một kỳ nhất định. Còn giá thành
sản phẩm xây lắp là tổng hợp các hao phí về lao động sống và lao động vật
hóa gắn liền với một khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao.
Mối liên hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện:
- Tính giá thành sản phẩm xây lắp phải dựa vào hạch toán chi phí sản
xuất. Trong một kỳ tính giá:
Giá thành sản
phẩm hoàn thành
=
CPSX dở dang
đầu kỳ
+
CPSX phát
sinh trong kỳ
-
CPSX dở dang
cuối kỳ
- Tổ chức quản lý tốt giá thành chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở tổ
chức tốt quản lý chi phí sản xuất.
- Mức tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp
đến giá thành sản phẩm cao hay thấp.
Nói tóm lại, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Vì thế, đối với các doanh nghiệp thì quản lý giá thành phải
gắn liền với quản lý chi phí sản xuất
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
9
Luận văn tốt nghiệp
1.2.4 Yêu cầu của công tác quản lý và nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm
1.2.4.1 Yêu cầu và sự cần thiết của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm
Trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng,
việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm rất quan trọng bởi
vì nó xác định được kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dựa vào
kết quả này các doanh nghiệp so sánh với dự toán, với số liệu trung bình của
ngành để phân tích tình hình sản xuất của bản thân doanh nghiệp và đưa ra
các giải pháp cho việc tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm.
Công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng chịu
nhiều ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như biến động về giá, nhu cầu xây
dựng, chính sách của Nhà nước Do đó, hoàn thiện công tác kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản tạo
điều kiện cho việc phân tích, cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh
nghiệp định mức tối ưu trong quản lý chi phí sản xuất và tính giá sản phẩm
doanh nghiệp.
1.2.4.2 Nhiệm vụ công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm cho phù hợp với tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
- Phản ánh đây đủ và kiểm tra đối chiếu thường xuyên các chi phí sản
xuất thực tế phát sinh.
- Tính giá thành sản phẩm xây lắp chính xác, kịp thời theo đúng khoản
mục giá thành và bàn giao kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn thành.
- Kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang của doanh nghiệp
theo nguyên tắc quy định. Đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất và lập
các báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm để cung cấp số liệu
cho nhà quản lý.
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
10
Luận văn tốt nghiệp
1.3 Hạch toán các khoản mục chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.1 Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
1.3.1.1 Đối tượng hạch toán
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và
quan trọng của tổ chức kế toán quá trình sản xuất.
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định
giới hạn tập hợp chi phí, thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu
chi phí.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là
từng công trình, hạng mục công trình hay đối tượng xây lắp có thiết kế riêng,
từng tổ, đội sản xuất…
1.3.1.2 Phương pháp hạch toán
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ
thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản
xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí.
1.3.1.2.1 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục công
trình
Chi phí phát sinh liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì
tập hợp riêng cho công trình, hạng mục công trình đó. Giá thành thực tế là
tổng số chi phí được tập hợp cho từng đối tượng kể từ khi khởi công đến lúc
hoàn thành.
1.3.1.2.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng
Các chi phí phát sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp
và phân bổ cho đơn đặt hàng đó. Khi thực hiện xong đơn đặt hàng thì tổng số
chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ lúc khởi công đến lúc hoàn thành là
giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
11
Luận văn tốt nghiệp
1.3.1.2.3 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo khối lượng công việc hoàn
thành
Toàn bộ chi phí phát sinh trong một kỳ nhất định được tập hợp cho
từng đối tượng chịu phí. Giá thành thực tế của khối lượng công việc hoàn
thành là toàn bộ chi phí bỏ ra trong giai đoạn thi công khối lượng xây lắp đó.
1.3.1.2.4 Phương pháp tập hợp chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thi công
Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp
thực hiện khoán. Đối tượng hạch toán chi phí là các bộ phận, đơn vị thi công
như tổ, đội sản xuất hay các khu vực thi công.
1.3.2 Hạch toán chi phí sản xuất
1.3.2.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí NVL trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, nguyên
vật liệu phụ, nhiên liệu… được xuất dùng trực tiếp cho việc hình thành sản
phẩm xây lắp. Chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản
phẩm xây lắp nên việc hạch toán chính xác chi phí NVL trực tiếp có ý nghĩa
rất quan trọng. Trong quá trình hạch toán chi phí NVL trực tiếp phải tôn trọng
những quy tắc:
- Nguyên, vật liệu sử dụng cho việc xây dựng công trình, hạng mục
công trình nào thì tập hợp trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó
trên cơ sở các chứng từ gốc có liên quan, theo số lượng thực tế sử dụng và
theo giá thực tế xuất kho.
- Cần kiểm tra số NVL đã lĩnh nhưng cuối kỳ chưa sử dụng hết, giá trị
phế liệu thu hồi nếu có để loại khỏi chi phí NVL trực tiếp trong kỳ.
Chi phí NVL sử
dụng trong kỳ
=
Giá trị NVL
đưa vào SX
-
Giá trị NVL
chưa sử dụng
-
Giá trị phế
liệu thu hồi
- Đối với vật liệu sử dụng liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi
phí, không thể hạch toán riêng được thì phải tính toán phân bổ cho từng đối
tượng. Tiêu thức phân bổ thường là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ
số hoặc theo trọng số, số lượng sản phẩm theo công thức:
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
12
Luận văn tốt nghiệp
Chi phí NVL
phân bổ cho từng
đối tượng
=
Tổng chi phí NVL cần phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ của các đối tượng
* Chứng từ sử dụng:
Chứng từ ban đầu sử dụng để hạch toán chi phí NVL trực tiếp là: phiếu
nhập kho, phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT…
* Tài khoản sử dụng:
- TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. TK này không có số dư
cuối kỳ và được chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí như từng công trình,
hạng mục công trình
* Quy trình hạch toán:
Sơ đồ 1.1: Trình tự hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.3.2.2 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản thù lao lao động phải trả cho công
nhân trực tiếp xây lắp bao gồm: tiền lương chính, tiền lương phụ và các khoản
phụ cấp có tính chất lương. Trong quá trình hạch toán chi phí nhân trực tiếp
phải tuân theo những quy tắc:
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
13
TK152
Xuất kho NVL dùng cho thi công
TK621 TK152, 111
TK111, 112, 331
Giá trị NVL xuất dùng
không hết thu hồi
NVL mua ngoài xuất trực
tiếp cho SX
TK133
VAT
TK154
Kết chuyển chi phí
NVL trực tiếp
Luận văn tốt nghiệp
- Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân sản xuất có liên quan
trực tiếp đến công trình nào thì phải hạch toán trực tiếp cho công trình đó trên
cơ sở các chứng từ gốc có liên quan.
- Các khoản trích theo lương, tính trên tiền lương phải trả công nhân
trực tiếp xây lắp như BHYT, BHXH, KPCĐ không được tính vào chi phí
nhân công trực tiếp mà được hạch toán vào chi phí sản xuất chung của hoạt
động xây lắp.
* Chứng từ sử dụng:
Chứng từ ban đầu dùng để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp là:
bảng chấm công, hợp đồng làm khoán, bảng thanh toán khối lượng…
* Tài khoản sử dụng:
- TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp. TK này không có số dư và
được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình.
* Quy trình hạch toán:
Sơ đồ 1.2: Trình tự hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
1.3.2.3 Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm các chi phí liên quan đến việc
sử dụng xe máy của đơn vị xây lắp như: Chi phí vật liệu, nhiên liệu, chi phí
Nguyễn Hồng Lê Lớp: Kế toán 46B
14
TK111, 112, 331
TK334 TK622 TK154
Tiền lương và phụ cấp lương
phải trả cho công nhân trực tiếp
TK111, 335
Trích trước tiền lương nghỉ
phép của công nhân
Chi phí NCTT thuê ngoài
Kết chuyển chi phí
NCTT
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét