Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Bản chất và chức năng của ngân hàng, vai trò của ngân hàng trong việc thực thi chính sách tiền tệ trong quản lí kinh tế vĩ mô ở Việt nam

trong thời kì công xã nguyên thuỷ tan rã. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và
phong kiến, nó đóng vai trò phụ thuộc bổ sung. Đây là kiểu sản xuất hàng
hoá nhỏ, dựa trên kỹ thuật thủ công và lạc hậu. Khi lực lợng sản xuất phát
triển cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thành sản xuất hàng hoá
quy mô lớn. Quá trình chuyển biến này diễn ra trong thời kì quá độ từ xã hội
phong kiến sang xã hội t bản.
b. Điều kiện ra đời nền kinh tế hàng hoá
Quá trình xuất hiện vận động và phát triển của kinh tế hàng hoá diễn
ra trên cơ sở của sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa
ngời sản xuất này với ngời sản xuất khác về t liệu sản xuất quy định.
Phân công lao động xã hội đã tạo ra những ngành nghề sản xuất khác
nhau. Do phân công lao động xã hội nên mỗi ngời chuyên sản xuất một loại
hàng hoá nhất định. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu dùng của họ lại cần nhiều loại
sản phẩm khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu này họ phải trao đổi sản phẩm
cho nhau. Làm nảy sinh quan hệ kinh tế giữa những ngời sản xuất .
Phân công lao động xã hội phát triển cũng dẫn tới sự ra đời của ngành
thơng nghiệp. Khi thơng nghiệp ra đời quan hệ trao đổi đã có mầu sắc mới.
Ngời sản xuất và ngời tiêu dùng quan hệ với nhau qua nhân vật thứ ba là th-
ơng nhân. Thơng nghiệp phát triển làm cho sản xuất và lu thông hàng hoá
cùng với lu thông tiền tệ đợc phát triển nhanh chóng. Quan hệ trao đổi ngày
càng đợc mở rộng và phát triển đỏi hỏi hệ thống giao thông vận tải cũng phải
mở rộng và phát triển đây là điều kiện vật chất làm tăng thêm các phơng tiện
trao đổi mở rộng thị trờng.
Điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hoá là sự tách biệt về kinh tế giữa
những ngời sản xuất do các quan hệ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất quy
định. Dựa vào điều kiện này mà ngời chủ t liệu sản xuất có quyền quyết định
việc sử dụng t liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất ra. Nh vậy
quan hệ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất đã chia rẽ ngời sản xuất, làm cho
họ tách biệt với nhau về mặt kinh tế. Trong điều kiện đó, ngời sản xuất này
muốn sử dụng sản phẩm lao động của ngời sản xuất khác thì phải trao đổi sản
phẩm lao động cho nhau. Sản phẩm lao động trở thành hàng hoá.
5
c. Ưu thế của sản xuất hàng hoá
Lịch sử phát triển sản xuất của xã hội là sản xuất tự túc tự cấp tiến lên
sản xuất hàng hoá (hay từ kinh tế tự nhiên hàng hoá). So với nền sản xuất tự
túc tự cấp thì sản xuất hàng hoá có u thế hơn hẳn về nhiều mặt:
Thứ nhất, do nhu cầu lớn và không ngừng tăng lên nên sản xuất hàng
hoá là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thứ hai, sự phát triển của sản xuất hàng hoá làm cho phân công lao
động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hoá, hợp tác hoá ngày càng tăng,
mối liên hệ giữa các ngành các vùng ngày càng chặt chẽ. Từ đó nó xoá bỏ
tính tự cấp, tự túc, bảo thủ trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã hội
hoá sản xuất và lao động.
Thứ ba, sản xuất tự túc tự cấp là sản xuất trong một môi trờng không
có cạnh tranh, còn môi trờng hoạt động của sản xuất hàng hoá là một môi tr-
ờng cạnh tranh gay gắt. Tính tách biệt kinh tế đỏi hỏi ngời sản xuất hàng hoá
phải năng động trong sản xuất kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
Muốn vậy họ phải ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao chất
lợng, cải tiến quy cách mẫu mã hàng hoá, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ. Từ
đó tăng năng suất lao động xã hội. Đây là động lực mạnh mẽ cho sự phát
triển của xã hội.
Thứ t, sản xuất hàng hoá quy mô lớn có u thế so với sản xuất hàng hoá
nhỏ về quy mô, trình độ kỹ thuật, khả năng thoả mãn nhu cầu. Vì vậy sản
xuất hàng hoá quy mô lớn là cách thức tổ chức hiện đại để phát triển kinh tế -
xã hội trong thời đại hiện nay.
Thứ năm, sản xuất hàng hoá phát triển với vai trò động lực của nhu
cầu, giao lu văn hoá, kinh tế đợc phát triển nên đời sống vật chất cũng nh đời
sống tinh thần của nhân dân đợc nâng cao ngày càng phong phú và đa dạng,
tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển quyền tự do, bình đẳng, độc lập
cả mỗi cá nhân.
Lịch sử các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây đã xuất hiện mô hình kinh tế
chỉ huy hay mô hình kế hoạch hoá tập trung. Mô hình này về thực chất là
xoá bỏ dần cơ sở kinh tế cụ tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá. Mặc dù
hình thức trên vẫn thừa nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hoá, của các phạm
trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất đó, những trong thực tế đã xa rời các
nguyên tắc tổ chức hoạt động của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng. Sau
này, Lênin đã nhận ra sai lầm của mình và đã rút ra kết luận quan trọng rằng:
Chính bản thân cuộc sống đã làm phá vỡ việc trao đổi trực tiếp va thay vào
đó là việc mua bán. Điều đó có nghĩa là cần phải phát triển kinh tế hàng
hoá, kinh tế thị trờng, thay cho nền kinh tế giản đơn tự cung tự cấp trớc kia.
2. Điều kiện ra đời của nền kinh tế hàng hoá.
6
Trớc hết ta có khái niệm của nền kinh tế hàng hoá: Là sản xuất ra sản
phẩm để trao đổi, để bán trên thị trờng, sản phẩm ở đây không phải là thoả
mãn nhu cầu nội bộ của ngời sản xuất mà sản xuất ra để trao đổi. Kinh tế
hàng hoá đối lập với kinh tế tự nhiên là loại hình kinh tế tiến hành sane xuất
sản phẩm để thoả mãn nhu cầu bản thân ngời sản xuất. ở nền kinh tế tự
nhiên thì ngời nông dân vừa phải tạo công cụ lao động nh cuốc xẻng vừa
trồng lúa còn trong nền kinh tế hàng hoá thì ngời nông dân chỉ phải trồng lúa
còn ngời thợ rèn làm ra cuốc xẻng để đổi lấy lúa gạo của ngời nông dân.
Việc ngời nông dân từ việc vừa phải sản xuất công cụ lao động vừa phải
trồng lúa và chuyển sang chỉ trồng lúa còn trao đổi lấy công cụ cuốc xẻng
của ngời thợ rèn chính là phân công lao động xã hội đó là sự chuyên môn hoá
ngời sản xuất thành những ngành nghề khác nhau, mỗi ngời chỉ sản xuất một
thứ hoặc một vài thứ sản phẩm, song nhu cầu của họ lại bao hàm nhiều thứ
khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu họ cần có sự trao đổi sản phẩm với nhau.
Nhng nếu chỉ có sự phân công lao động thôi thì cha đủ để có sản xuất hàng
hoá, đây mới chỉ là điều kiện cần của sản xuất hàng hoá. Nếu chỉ có phân
công lao động và tất cả t liệu sản xuất đều là của chung nh vậy mỗi ngời sản
xuất cung cấp sản phẩm cho xã hội và xã hội cung cấp sản phẩm cho cá nhân
tiêu dùng bởi vậy ở đây không có sự mua bán, trao đổi hàng hoá với nhau nên
chỉ có sự phân công lao động xã hội thôi thì chứa đủ để có đợc nền sản xuất
hàng hoá.
Ngoài điều kiện phân công lao động xã hội thì để chuyển từ kinh tế tự
nhiên sang kinh tế hàng hoá cần phải xuất hiện chế độ t hữu hoặc các hình
thức sở hữu khác nhau của t liệu sản xuất và sản phẩm, đây là điều kiện đủ để
có đợc sản xuất hàng hoá. Ta đặt vấn đề ngợc lại, nếu chỉ có điều kiện hình
thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất và sản phẩm thì có thể chuyển đơc
từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh têa hàng hoá hay không? Câu trả lời là
không vì nếu chỉ có điều kiện sở hữu t nhân về t liệu sản xuất mà không có sự
phân công lao động sã hội thì cha thể có sản xuất hàng hoá, ngời nông dân
vừa dệt vải, vừa tự rèn lấy công cụ và trồng lúa. Tức là nền kinh tế vẫn mang
tính tự cung tự cấp hoàn toàn thì sản xuất đó không phải là nền sản xuất hàng
hoá.
Nh vậy phân công lao động xã hội là cơ sở để có thể xản xuất hàng hoá
còn chế độ t hữu làm cho việc trao đổi sản phẩm mang hình thức trao đổi
hàng hoá. Thiếu một trong hai điều kiện đó thì không thể sản xuất hàng hoá.
3. Ưu thế của sản xuất hàng hoá.
7
Lịch sử phát triển sản xuất của xã hội là sản xuất tự túc tự cấp tiến lên sản
xuất hàng hoá (hay từ nền kinh tế tự nhiên lên nền kinh tế hàng hoá). So với
nền sản xuất tự túc tự cấp thì sản xuất hàng hoá có u thế hơn hẳn về nhiều
mặt.
- Thứ nhất, nền sản xuất tự túc tự cấp là nền sản xuất khép kín làm cho
nên sản xuất bị hạn chế không phát triển, mặt khác sản xuất hàng hoá là sản
xuất ra sản phẩm để bán nên nhu cầu là rất lớn và không ngừng tăng lên bởi
vậy nó là động lực để thúc đẩy sản xuất.
- Thứ hai, sản xuất tự túc tự cấp là sản xuất trong một môi trờng không có
cạnh tranh, sản xuất với qui mô nhỏ, nhu cầu chủ yếu dựa vào nguồn lực tự
nhiên nên không có động lực mạnh cho việc đổi mới kỹ thuật và phát triển
sản xuất hơn nữa, những nguồn lực tự nhiên thì đợc sử dụng một cách rất
lãng phí. Còn môi trờng hoạt động của sản xuất hàng hoá là một môi trờng
cạnh tranh găy gắt, quy mô sản xuất lớn, nguồn lực tự nhiên ngày càng khan
hiếm, điều này buộc những ngời sản xuất phải cải tiến kỹ thuật, linh động
trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trái với sản xuất tự cấp tự túc, đây
là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của xã hội.
- Thứ ba, đối với sản xuất tự cấp tự túc do sản xuất phát triển thấp, sản
xuất ít và nhu cầu thấp nên ở mỗi vùng và các vùng khác nhau, đời sống vật
chất, văn hoá, tinh thần rất nghèo nàn và thấp kém, không có sự giao lu trao
đổi văn hoá giữa các vùng. Nhng sản xuất hàng hoá khắc phục đợc tình trạng
này, do sản xuất hàng hoá phát triển với vai trò động lực của nhu cầu, giao lu
văn hoá, kinh tế đợc phát triển nên đời sống vật chất cũng nh đời sống tinh
thần của nhân dân đều đợc nâng cao ngày càng phong phú và đa dạng, tạo
điều kiện cho sự phát triển độc lập, tự do bình đẳng của mỗi cá nhân.
- Thứ t, nền sản xuất tự cấp tự túc khép kín đã cản trở sự phát triển của
phân công lao động xã hội, trái lại do sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở
phân công lao động xã hội, thúc đẩy sự chuyên môn hoá các ngành sản xuất,
làm cho các ngành sản xuất ngày càng đợc chuyên môn hoá và phát triển
mạnh mẽ, trình độ kỹ thuật ngày càng đợc nâng cao, trên thế giới hiện nay
khoa học kỹ thuật phát triển vô cùng nhanh chóng nhất là trong lĩnh vực công
nghệ thông tin và điện tử
Nh vậy ta có thể thấy rằng, so với nền sản xuất tự cấp tự túc thì nền sản
xuất hàng hoá tỏ ra có nhiều u điểm hơn hẳn, và điều quan trọng la nó luôn
kích thích cho sản xuất phát triển.
4. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ.
8
Ta thấy rằng từ khi chủ nghĩa xã hội ra đời và phát triển thành một hệ
thống trên thế giới cho đến trớc thập kỷ 80, vấn đề có hay không tồn tại của
nền sản xuất hàng hoá trong chủ nghĩa xã hội luôn là đề tại tranh luận trong
giới nghiên cứu lý luận Macxit. Nhìn chung, về phơng diện lý luận, quan
điểm chính thống chi phối trong suốt mấy thập kỷ qua là quan niệm cho
rằng: kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế phát triển theo kế hoạch cân dối
và có kế hoạch cùng với các quy luật kinh tế đặc thù khác của chủ nghĩa xã
hội, Nhà nớc có vai trò chủ yếu trong quá trình tái sản xuất và phân phối sản
phẩm mà không cần đến các quan hệ trao đổi hàng hoá trên thị trờng. Kinh tế
hàng hoá bị coi nhẹ, đợc coi là đặc trng riêng của nền kinh tế t bản chủ nghĩa
cần phải hạn chế và đi tới xoá bỏ. Nhng trên thực tế chính điều đó là nguyên
nhân chủ yếu làm trì trệ, kìm hãm đa nền kinh tế của các quốc gia XHCN
đến khủng hoảng và tan vỡ. Từ những thực tế trên ta thấy quan điểm cho rằng
sản xuất hàng hoá là đặc trng riêng của chủ nghĩa t bản là hoàn toàn sai
lầm. Mặt khác theo Cacmac sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở phân công
lao động xã hội và chế độ t hữu về t liệu sản xuất bởi vậy sản xuất hàng hoá
tồn tại trong thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan vì:

- Thứ nhất, khi mà phân công xã hội phát triển kéo theo chuyên môn hoá
sản xuất ngày càng sâu sắc, từ đó sẽ nảy sinh thêm những mối quan hệ kinh
tế, những sự trao đổi hoạt động lao động trong xã hội.
- Thứ hai, đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ đó là nền kinh tế nhiều
thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất, nhiều
chủ thể kinh tế khác nhau. Những chủ thể kinh tế này tách biệt, độc lập với
nhau nhng họ đều nằm trong một hệ thống phân công lao động xã hội do đó
sản xuất và đời sống của họ vẫn có sự phụ thuộc lẫn nhau và quan hệ kinh tế
giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng con đờng trao đổi hàng hoá tức là phải có
sản xuất hàng hoá.

- Thứ ba, quan hệ hàng hoá tiền tệ là hình thức cần thiết thuận lợi để đảm
bảo sự công bằng trong quan hệ kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, vì hai
đơn vị này tuy cùng là sở hữu công cộng về t liệu sản xuất nhng nó vẫn có sự
khác biệt nhất định và có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, cạnh tranh hay
hợc tác với nhau, nó còn có sự khác biệt nhau về trình độ kỹ thuật, trình độ
quản lý, về hiệu quả sản xuất kinh tế, chúng ta không thể dùng phơng pháp
bình quân, cào bằng ở đây đợc.

- Thứ t, sản xuất hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền tệ còn chính là điệu
kiện cần thiết và tất yếu trong quan hệ đối ngoại giữa các nớc trên thế giới
bởi vì mỗi nớc vẫn là những quốc gia riêng biệt, là những chủ sở hữu khác
nhau về sản phẩm hàng hoá.
9
Từ những lý do trên đây ta nhận thấy trong thời kỳ quá độ sản xuất hàng
hoá tồn tại là một tất yếu khách quan và không thể cỡng lại đợc, không thể
dùng mệnh lệnh để ngăn cấm, xoá bỏ sản xuất hàng hoá .
II.Tính tất yếu khách quan phải phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần ở Việt Nam.
1. Do yêu cầu của phát triển lực l ợng sản xuất .
Lực lợng sản xuất phát triển tỷ lệ thuận với tiến trình tập trung xã hội hoá
quan hệ sở hữu mà đỉnh cao là sở hữu toàn dân. Sự hình thành các tập đoàn
kinh tế, các công ty cổ phần, công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia chính là
những biểu hiện của quá trình xã hội hoá quan hệ sở hữu ở một trình độ nhất
định. Khi mà lực lợng sản xuất đang ở mức thấp thì tơng ứng với nó là sự tồn
tại nhiều hình thức sở hữu phân tán.
Thế giới ngày nay do phát triển lực lợng sản xuất của khoa học, công
nghệ mà giàu có rất nhanh; những đi liền với nó là bất công xã hội ngày càng
tăng, sự giàu có phát triển không làm cho bất công xã hội giảm đi mà ngày
càng phát triển, để giải quyết mâu thuẩn này không có cách nào khác là khi
tăng trởng kinh tế phải đi đôi với giải quyết công bằng xã hội, ở đây không
có nghĩa là cào bằng sự siêng năng tích cực, sự biếng nhác; làm ăn có hiệu
quả khác nhau đều đợc hởng nh nhau; làm nh vậy sẽ triệt tiêu động lực phấn
đấu của con ngời. ở đây cần phải dùng quan hệ hàng hoá tiền tệ để phân chia
quyền lợi , chỉ có làm nh vậy mới làm giảm sự bất công xã hội. Hơn nữa trình
độ phát triển lực lợng sản xuất của nớc ta còn ở mức rất thấp, sự phân công
lao động xã hội gắn với sự tồn tại của nhiều chủ thể sở hữu khác nhau nh các
thực thể kinh tế độc lập, do vậy việc trao đổi sản phẩm không thể thực hiện
bằng cách náo khác là thực hiện trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ.
Trong thời kỳ quá độ của nớc ta hiện nay muốn phát triển lực lợng sản
xuất thì phải nâng cao xã hội hoá và chuyên môn hoá lao động mà điều này
chỉ có thể diễn ra thuận lợi trong nền kinh tế thị trờng.
Ngày nay, trên thế giới, do sự phát triển của lực lựng sản xuất của khoa
học công nghệ, đang có xu hớng quốc tế hoá đời sống nhân loại, xu hớng này
mở ra cả chiều rộng và chiều nghịch, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực tác động
đến con ngời, đến các quốc gia. Xu thế này đòi hỏi sự giao lu hợp tác, hiểu
biết lẫn nhau giữa các vùng và các quốc gia. Do vậy cần phải phát triển sản
xuất hàng hoá ở nớc ta để việc giao lu, hợp tác với các nớc khác trên thế giới
đợc dễ dàng thuận lợi.
10
Mặt khác, sản xuất hàng hoá phát triển kéo theo lực lợng sản xuất phát
triển làm cho sản phẩm xã hội ngày càng phong phú đáp ứng đợc yêu cầu
ngày càng tăng của con ngời.
2. Do tồn tại nhiều thành phần kinh tế.

Việc đổi mới quản lý kinh tế sử dụng đúng đắn mối quan hệ hàng hoá tiền
tệ bằng phơng pháp kinh tế là chủ yêú đã đợc đặt nền tảng t tởng bởi nghị
quyết đại hội VI (1986) có tính quyết định cho việc lạ chọn chuyển nền kinh
tế nớc ta sang nền kinh tế thị trờng nhanh chóng đa nớc ta thoát hỏi tình trạng
nghèo nàn lạc hậu. Từ những quan điểm đó Chính phủ đã chủ trơng chuyển
việc mua bán t liệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng. từ cơ chế hành chính quan
liêu bao cấp sang việc mua bán thông qua thị trờng.
Nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần tơng ứng với nhiều hình thức sở hữu
khác nhau về t liệu sản xuất là cơ sở gắn liền với nó là sự tồn tại và phát triển
kinh tế hàng hoá. Đối với nền kinh tế nớc ta với lực lợng sản xuất cha đồng
đều chúng ta đã nhận định đợc rằng chỉ có phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần mới có khả năng khắc phục đợc tình trạng không đồng đều đó của lực l-
ợng sản xuất. Trong nền kinh tế nớc ta hiện nay, tồn tại sáu thành phần kinh
tế:
- Kinh tế Nhà nớc.
- Kinh tế hợp tác.
- Kinh tế sản xuất nhỏ của nông dân và ngời buôn bán nhỏ.
- Kinh tế t bản Nhà nớc.
- Kinh tế t bản t nhân.
- Kinh tế có sự tham gia của ngời nớc ngoài.
Hiện nay, nớc ta đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do sự sai
lầm về đờng lối, chính sách thời trớc đổi mới, hậu quả chúng ta phải gánh
chịu đó là nền kinh tế kém phát triển, làm mất khả năng cạnh tranh và những
tác dụng tích cực của nền kinh tế hàng hoá. Nền kinh tế nhiều thành phần là
nguồn lực tổng hợp về nhiều mặt ( huy đông đợc mọi tiềm năng về vốn, kỹ
thuật và phát thy đợc mọi tiềm năng của con ngời Việt nam) có khả năng đa
nền kinh tế vợt qua đợc tình trạng thấp kém, đa nền kinh tế hàng hoá phát
triển ngay trong điều kiện nguồn vốn, ngân sách của Nhà nớc còn hạn hẹp.
11
Một điều có ý nghĩa khá lớn là chúng ta đã nhận định đợc đó là: do trong
nền kinh tế hàng hoá chịu sự tác động của sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế
dịch vụ phát triển nhanh chóng, bởi vậy lao động dịch vụ có khả năng thu hút
nguồn lao động không nhỏ, góp phần giải quyết đợc vấn đề công ăn việc làm
ở nớc ta hiện nay. Trong điều kiện đó các thành phần kinh tế có khả năng mở
rộng, tác dụng làm cho nền kinh tế hàng hoá và dịch vụ phát triển.
Vậy đối với nớc ta hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng xhcn là một nhu cầu khách quan, là xu thế tất
yếu hợp thời đại.
3. Do đòi hỏi nâng cao đời sống nhân dân.
Vào thời kỳ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX này, dân tộc ta bị
sống đọa đầy dới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai.
Trong ách áp bức bọc lột, nhiều phong trào yêu nớc đã kế tiếp nhau diển ra
để chống lại bọn cớp nớc và bè lũ bán nớc, nhng những phong trào đó lần lợt
bị thất bại do không tìm đợc ra con đờng cứu nớc đúng đắn. Trong bối cảnh
đó Hồ Chí Minh với tên gọi Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm con đờng cứu nớc
tại bến cảng Nhà Rồng và Ngời đã tìm ra con đờng đúng đắn để giải phóng
dân tộc. Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng mới giành đợc,
Ngời đã nêu bật một chân lý Nớc độc lập mà dân không đợc hởng hạnh
phúc thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì và Ngời thờng căn dặn thắng đế quốc
và phong kiến là tơng đối khó nhng thắng nghèo nàn, lạc hậu còn khó khăn
hơn nhiều.

Đối với nớc ta trong thời kỳ trớc đổi mới (1986) do những sai lầm trong
nhận thức về mô hình XHCN, cho rằng kinh tế hàng hoá là đặc trng riêng của
chủ nghĩa t bản, điều này đã làm cho nền kinh tế nớc ta lâm vào khủng hoảng
trầm trọng, lạm phát gia tăng một cách khủng khiếp (có thời kỳ lên tới 600 -
700%) đời sống nhân dân vô cùng khổ cực.

Trớc những thực trạng đó của đất nớc, Đảng ta đã nhận ra sai lầm và đã đề
ra phơng hớng đổi mới đất nớc đó là vận hành nền kinh tế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc kể từ sau Đại hội VI ( 1986). ở nông thôn nớc ta, sự
phát triển kinh tế hàng hoá và việc tăng tỷ lệ hàng hoá nông sản đã làm cho
hàng hoá của nông dân nhiều lên, thu nhập tăng một cách đáng kể.

Thực tiễn nhữn năm đổi mới đã chỉ ra rằng, việc chuyển sang mô hình
kinh tế thị trờng là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ mô hình kinh tế đó mà những
năm qua, chúng ta đã bớc đầu khai thác đợc tiềm năng trong nớc đi đôi với
thu hút vốn kỹ thuật nớc ngoài, phát triển lực lợng sản xuất .
III.Những giải pháp phát triển kinh tế hàng hoá.
12
1. Thực trạng kinh tế hàng hoá n ớc ta hiện nay.
1.1. Những thành tựu đạt đ ợc khi có chính sách mới.

Cho đến cuối những năm 80 về cơ bản, trong nền kinh tế nớc ta, sản xuất
nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp còn chiếm
u thế. Xã hội Việt Nam về cơ bản vẫn dựa vào nền văn minh nông nghiệp lúa
nớc, nông dân chiếm đại đa số. Trong quá trình thực hiện những biện pháp
cải cách, chúng ta đã phạm phải một số sai lầm mới nên khủng hoảng kinh tế
xã hội diễn ra ngày càng gay gắt, tỷ lệ lạm phát lên đến 774,7% vào năm
1986. Việt Nam vẫn là một nớc ngèo nàn, lạc hậu và kém phát triển không
những trên thế giới mà thậm chí ngay trong khu vực Đông Nam á.

Từ khi có chính sách đổi mới, thành tựu nổi bật nhất là đẩy lùi lạm phát,
chỉ trong một thời gian ngắn hàng loạt các đơn vị của thành phần kinh tế kinh
doanh thơng mại đợc hình thành, hoạt động trên mọi lĩnh vực từ xuất nhập
khẩu đến kinh doanh thiết bị nhỏ lẻ trên cả nớc. Các tổ chức này ra đời đã
làm cho thị trờng trở nên sôi động, khối lợng hàng hoá và tiền vốn từ nhiều
nguồn lực đợc huy động vào lu thông với mức mà trớc đây cha khi nào có đ-
ợc. Việc ngăn sông cấm chợ đợc xoá bỏ, việc lu thông hàng hoá đợc dễ dàng,
tình trạng khan hiếm hàng hoá đợc đẩy lùi, hiện tợng chênh lệch giá giữa các
vùng, khu vực bị hạn chế, nạn độc quyền trong kinh doanh đợc giải quyết
đáng kể, đời sống xã hội đợc nâng lên.

Trong những năm vừa qua, nền kinh tế nớc ta phát triển tơng đối nhanh và
ổn định, lơng thực từ chỗ thiếu thốn cho đến nay không những đáp ứng đợc
nhu cầu trong nớc mà còn phục vụ cho xuất khẩu. Đầu năm 1988 có nạn đói
lớn ở nhiều vùng và lạm phát còn ở mức 393,8%, nhng từ năm 1989 trở đi, n-
ớc ta đã bắt đầu xuất khẩu đợc mỗi năm 1- 1,5 tấn gạo; lạm phát giảm dần,
đến năm 1990 chỉ còn 67,4%, và đến năm 1999 vừa qua nớc ta đã trở thành
một nớc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, trên cả Mỹ. Nhiều công
trình trọng điểm về kết cấu hạ tầng đợc xây dựng đã tạo thêm sức mạnh vật
chất và thế cân đối cho những bớc phát triển tiếp theo.

Một thành tựu không nhỏ nữa đó là việc xuất hiện nhiều khu công nghiệp
lớn, ngành nghề mơí đã tạo thêm nhiều việc làm cho lao động xã hội từ đó
những tệ nạn xã hội cũng dần đợc kiềm chế, sự tăng trởng kinh tế cũng đã
góp phần nâng cao đời sống các tầng lớp dân c, số hộ nghèo đói ở nớc ta đợc
giảm đi đáng kể, nhiều hộ gia đình từ chỗ không đủ ăn đến đủ ăn, đến nay
thậm chí có những hộ gia đình từ khi có chính sách kinh tế mới đã mạnh dạn
đầu t sản xuất và trở thành những ông chủ giầu có. Đời sống nhân dân đợc
cải thiện đáng kể so với trớc kia.
13
1.2. Những khó khăn và thách thức mới.

Tuy rằng trong những năm qua nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn,
mức sống của nhân dân đợc nâng lên một cách đáng kể, nhng bên cạnh đó
cũng đặt cho chúng ta những khó khăn và thách thức mới. Việc vực dậy nền
kinh tế từ không đến có hay từ đói nghèo đến đủ ăn, đủ mặc tiến lên ăn ngon
mặc đẹp ở mức cao hay một nền kinh tế từ có lên đến nhiều hơn nữa và
tiến lên giàu mạnh hơn nữa.

Nền kinh tế của nớc ta tuy đang phát triển với tốc độ cao nhng không
vững chắc, nguồn lực phụ thuộc nhiều vào nớc ngoài, huy động nguồn đầu t
từ dân thấp, cha tạo đợc tâm lý yên tâm cho ngời dân mạnh dạn đầu t phát
triển. Việc lu thông hàng hoá và hoạt động thơng mại chủ yếu tập trung vào
những vùng thành thị, khu đông dân và những thành phố lớn, chú ý nhiều đến
kinh doanh, hai thác hàng nhập khẩu, thị trờng nông thôn miền núi, hàng hoá
sản phẩm trong nớc nhất là hàng hoá nông sản thì ít đợc chú ý. Quá trình
mua bán diễn ra nhanh chủ yếu chạy theo lợi nhuận trớc mắt đã làm cho thị
trờng trong nớc bị phân đoạn, tách rời, động lực thúc đẩy sản xuất bằng
nguồn lực nội tại trong nớc của thị trờng không đợc phát huy.

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội nớc ta còn ở trình độ thấp, bên cạnh
một số lĩnh vực, một số cơ sở kinh tế đợc trang bị máy móc, thiết bị công
nghệ hiện đại thì bộ phận lao động thủ công vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng số lao động xã hội. Trong nhiều ngành kinh tế do máy móc cũ kỹ, công
nghệ lạc hậu nên sức cạnh tranh trên thị trờng trong nớc cũng nh ngoài nớc
còn rất yếu, số lợng, chất lợng hàng hoá làm ra còn thấp, chuyên môn hoá
sản xuất cha sâu, giao lu hàng hoá còn nhiều hạn chế hơn nữa lại bị hàng
nhập khẩu chèn ép, không xuất khẩu đợc nên nhiều doanh nghiệp khôn phát
huy đợc hết năng lực sản xuất. Đội ngũ những nhà quản lý doanh nghiệp
thành thạo còn quá ít, cha đáp ứng đợc nhu cầu to lớn của thực tiễn, số lợng
lao động thì lớn nhng số lợng đợc đào tạo kỹ thuật có khả năng đáp ứng yêu
cầu, đòi hỏi của những công nghệ hiện đại trên thế giới còn chiếm tỷ lệ qúa
nhỏ dẫn đến tình trạng tuy có nguồn lực dồi dào nhng không thể khai thác đ-
ợc triệt để vì còn thiếu nhân lực có kỹ thuật có tay nghề. Hơn nữa, thu nhập
của ngời làm công ăn lơng cũng nh của nông dân lao động còn thấp (khoảng
200 USD/ngời/năm, một trong những nớc có thu nhập bình quân trên đầu ng-
ời thấp nhất thế giới ), do đó sức mua hàng cha cao làm cho dung lợng thị tr-
ờng trong nớc còn ở mức nhỏ hẹp, điều này khiến chúng ta không thể khai
thác hết đợc những tiềm năng phát triển trong nớc, và cũng hạn chế cả khả
năng hấp dẫn với những nguồn đầu t từ nớc ngoài. Đứng trớc vấn đề trên,
chúng ta phải đa ra những giải pháp hữu hiệu để giải quyết.
2. Những giải pháp phát triển kinh tế hàng hoá Việt Nam
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét