Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Trớc năm 1993, đối với các doanh nghiệp bị phá sản hoặc đang đứng
bên lề phá sản thì cha có một văn bản nào của nhà nớc quy định về phá sản
và thủ tục phá sản. Vì vậy việc sử lý đối các doanh nghiệp đó gặp rất nhiều
khó khăn. Việc sử lý các doanh nghiệp phá sản phải áp dụng những quy điịnh
có tính chất hành chính trong các văn bản pháp quy hiện hành về giải thể xí
nghiệp thì đỡ dẫn đến tuỳ tiện, xoá nợ để chốn tránh trách nhiệm, tham ô
chia chác, Song việc áp dụng các quy định đó để xử lý phá sản doanh
nghiệp vừa dẫn đến các lại vừa không phù hợp với thông lệ quốc tế. Ngoài ra
có nhiều doanh nghiệp t nhân, cá nhân và nhóm kinh doanh do cha có luật
pháp thích ứng để xử lý các trờng hợp vỡ nợ, nên nhiều trờng hợp đã phải tự
xử lý theo luật rừng, gây nên rối loạn kinh tế và trật tự xã hội.
Vì vậy việc ban hành kuật phá sản doanh nghiệp là rất cần thiết đối với
tất cả các doanh nghiệp đợc đăng kí theo pháp luật hiện hành và đang hoạt
động trên lãnh thổ Việt Nam, kể cả doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp
ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Nó sẽ góp phần
cùng với các biện pháp khác để lập lại trật tự lỷ cơng trong thanh toán nợ,
thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, ngăn ngừa các hiện tợng
tiêu cực, tuỳ tiện, làm ăn phi pháp. Tuy nhiên chỉ sau khi áp dụng các biện
pháp cần thiết mà doanh nghiệp vẫn không thoát khỏi tình trạng mất khả
năng thanh toán các khoản nợ đến hạn mới tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
2.2- Luật phá sản doanh nghiệp( 31/12/1993)
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, doanh nghiệp
mắc nợ và những ngời có liên quan, xác định trách nhiệm của doanh nghiệp
mắc nợ khi giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quảvà đảm bảo trật tự, kỷ cơng xã hội: Căn cứ vào
Điều 84 của Hiến pháp nớc CHXHCNVN năm 1992: Luật phá sản doanh
nghiệp đã đợc Quốc hội nớc CHXHCNVN khoá IX, kỳ họp thứ t thông qua
ngày 31/12 1993.
Pháp luật phá sản là một tổng thể thống nhất các quy phạm pháp luật
nhằm hớng đến việc giải quyết đúng đắn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp. Trong đó luật phá sản đống vai trò trung tâm vì nó quy định những
vấn đề có tính nguyên tắc của trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản doanh nghiệp nh: Phạm vi áp dụng của Luật, điều kiện mở thủ tục
phá sản, trình tự và các giai đoạn của quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản doang nghiệp, thứ tự yêu tiên thanh toán khi phân chia giá trị tài sản
phá sản .
Pháp luật phá sản luôn là một hệ thống mở và luôn vận động cho phù
hợp với các yêu cầu cho mỗi nền kinh tế trong các giai đoạn phát triển khác
nhau. Tuy nhiên sự hình thành nhanh chóng của các công ty xuyên quốc gia
cùng với tiến trình toàn cầu hoá trong điều kiện hiện nay đang đòi hỏi các
nền kinh tế phải có cách nhìn nhận hiện tợng phá sản thống nhất, sự hợp tác
chặt chẽ giữa các quốc gia để đảm bảo an ninh kinh tế chung trên cơ sở hạn
chế đến mức tối đa những hậu quả bất lợi do phá sản đem lại.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Biết rằng, Luật phá sản áp dụng đối với những đôí tợng nào là phụ
thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nớc:
Luật phá sản của Anh, Mĩ, úc áp dụng cho tất cả các cá nhân, pháp
nhân bất luận là nhà kinh doanh hay không là nhà kinh doanh nếu không
thanh toán đợc nợ đến hạn đều có thể tuyên bố phá sản.
Luật phá sản Liên Bang Nga áp dụng chỉ với nhà kinh doanh, gồm
doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh mới có thể bị tuyên bố phá sản.
Riêng ở Việt Nam, Luật phá sản thể hiện rõ đặc trng về đối tợng áp
dụng của nó qua tên gọi: Luật phá sản doanh nghiệp. Nh vậy chỉ doanh
nghiệp mới chịu sự chi phối của Luật phá sản. Sở dĩ có qui định nh vậy là khi
xây dựng Luật phá sản chúng ta cho rằng nên tập trung sự quan tâm và các
đối tợng là các doanh nghiệp, bởi lẽ đây là chủ thể kinh doanh chủ yếu trên
thơng trờng, hơn nữa Toà án kinh tế mới đợc thành lập nên ngại rằng việc đa
ra tất cả các cá nhân và nhóm kinh doanh theo Nghị định 66 HĐBT vào
đối tợng điều chỉnh của Luật phá sản thì Toà án kinh tế không thể giải quyết
đợc khối lợng công việc đồ sộ này.
Tuy nhiên, việc đa Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam đi vào thực
tiễn cuộc sống là vấn đề hoàn toàn mâu thuẫn với quan điểm xây dựng luật.
Số vụ việc yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp so với thực tế là
quá ít. Luật có hiệu lực từ năm 1994, trong 6 năm thực hiện, tính đến năm
2000, trên toàn quốc, các Toà án mới chỉ giải quyết cha đầy 100 vụ yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Trong đó số vụ ra quyết định bởi Toà án lại
càng ít. Sở dĩ có tình trạng đó là do rất nhiều nguyên nhân, mà không thể nói
đến nguyên nhân từ Luật.
Tuy vậy, với tính cách là một bộ phận pháp luật trong pháp luật về
môi trờng kinh doanh, pháp luật phá sản có vị trí đặc biệt quan trọng
không chỉ với các chủ thể kinh doanh mà còn đối với toàn bộ trật tự kinh tế
xã hội nói chung. Vai trò đó đợc thể hiện ở những mặt sau:
- Pháp luật phá sản trớc hết là công cụ bảo vệ quyên và lợi ích hợp
pháp của chính doanh nghiệp mắc nợ.
- Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của
các chủ nợ.
- Pháp luật về phá sản góp phần bảo vệ quyền và lợi ích ngời lao động.
- Pháp luật phá sản góp phần bảo vệ trật tự kỉ cơng của xã hội.
Nh vậy Luật phá sản doanh nghiệp (21/12/1998) ra đời và đợc áp dụng
vào thực tiễn, bên cạnh những vai trò to lớn vẫn còn những điểm bất cập gây
khó khăn đối với các cơ quan Nhà nớc khi xét xử.
2.3 Một số văn bản qui phạm pháp luật có liên quan đến phá sản
doanh nghiệp.
- Nghị định số 189/CP ngày 23/12/1994 của chính phủ hớng dẫn
thi hành Luật phá sản DN.
- Nghị định số 92/CP ngày 19/12/1995 của chính phủ về giải quyết
quyền lợi của ngời lao động trong doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
- Nghị định số 50/CP ngày 28/8/1996 của chính phủ về sửa đổi và bổ
xung một số điều của NĐ50 28/8/1996
- Thông t số 25 TC/TCDN ngày 15/5/1997 của Bộ Tài Chính hớng
dẫn trình tự, thủ tục, nguyên tắc xử lý tài chính
II Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
theo pháp luật Việt Nam hiện hành.
** Việc giải quyết tuyên bố phá sản dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất: Ưu tiên việc hoà giải tự nguyện. Sau khi có đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp Nhà nớc u tiên cho việc hoà giải tự nguyện
giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ, nhận bảo lãnh và mua lại các khoản nợ
của doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản đợc u tiên giải quyết đến
trớc ngày Toà án có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp.
Thứ hai: Chỉ có T.A.N.D cấp tỉnh trở lên mới có thẩm quyền tuyên bố
phá sản doanh nghiệp. Thẩm quyền sử lý yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp theo Luật phá sản doanh nghiệp qui định: Chỉ T.A.N.D cấp tỉnh,
T.A.N.D.T.C là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Thứ ba: Nguyên tắc thi hành: phòng thi hành án thuộc sở T pháp, Cục
quản lý thi hành án dân sự thuộc bộ t pháp là cơ quan có thẩm quyền thi hành
quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Thứ t: Nguyên tắc kiểm soát và giám sát việc xử lý yêu câu phá sản.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở nên mới có chức năng kiểm soát và giám
sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh
nghiệp theo qui định của pháp luật.
** Thủ tục làm đơn, nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Thứ nhất: Thủ tục làm đơn của chủ nợ: Sau 30 ngày kể từ khi gửi giấy
đòi nợ cùng hạn mà không đợc doanh nghiệp thanh toán, hoặc doanh nghiệp
không trả lơng cho ngời lao động 3 tháng liên tiếp thì các chủ nợ có quyền
viết đơn nộp lên toà án nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.
Thứ hai: Thủ tục làm đơn của chủ doanh nghiệp. Trong trờng hợp đã
thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính và để thanh toán các
khoản nợ đến hạn, kể cả hoãn nợ mà doanh nghiệp không thoát khỏi tình
trạng mất khả năng trả nợ đến hạn thì chủ doanh nghiệp hoặc ngời đại diện
hợp pháp của họ làm đơn đến Toà án nơi có trụ sở chính của doanh nghiệp
xin tuyên bố phá sản.
Thứ ba: Trách nhiệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Toà
án. Trong quá trình giải quyết các vụ án có liên quan đến doanh nghiệp, nếu
phát hiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì Toà án báo cho các
chủ nợ hoặc doanh nghiệp đó biết để nộp đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố
phá sản doanh nghiệp. Nh vậy, Toà án cha có quyền giải quyết khi cha có
đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Thứ t: Trách nhiệm thông báo việc thụ lý đơn và yêu cầu cung cấp tài
liệu, chứng cứ. Toà án thụ lý đơn phải ghi vào sổ và cấp cho ngời nộp đơn
giấy báo đã nhận đợc đơn và các giấy tờ gửi kèm. Trong thời hạn 7 ngày, kể
từ ngày nhận đơn Toà án thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp mắc nợ
biết, có bản sao đơn và các tài liệu liên quan kèm theo. Trong thời hạn 10
ngày, kể từ khi nhận đợc thông báo của Toà án, doanh nghiệp đó phải gửi báo
cáo về khả năng thanh toán nợ. Trong trờng hợp thừa nhận mình đã mất khả
năng thanh toán nợ đến hạn thì gửi các tài liệu nh yêu cầu đối với việc doanh
nghiệp tự làm đơn xin tuyên bố phá sản.
Th năm : Thẩm quyền từ chối mở thủ tục giải quyết đơn. Trong thời
hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn. Chánh toà kinh tế cấp tỉnh xem xét đơn và
các tài liệu liên quan, nếu xét thấy không đủ căn cứ thì ra quyết định không
mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Quyết định
này phải nêu rõ lý do, gửi cho ngời làm đơn và các doanh nghiệp mắc nợ
biết. Trong thời hạn 15 ngày, sau khi nhận đợc quyết định từ chối giải quyết
của Chánh toà kinh tế cấp tỉnh thì các bên có quyền khiếu nại lên Chánh án
TAND cấp tỉnh về quyết định này. Trong vòng 7 ngày, kể từ khi nhận đợc
đơn khiếu nại, chánh án TAND cấp tỉnh phải ra một trong các quyết định
sau:
- Giữ nguyên quyết định của Chánh toà kinh tế.
- Huỷ quyết định của Chánh toà kinh tế và yêu cầu xem xét lại.
Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày chánh án TAND cấp tỉnh ra quyết
định trên thì Chánh Toà án kinh tế phải ra quyết định mới và gửi cho chánh
án cũng nh các đơng sự. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đợc quyết
định khác của Chánh Toà kinh tế nếu các bên còn khiếu nại thì Chánh án
TAND cấp tỉnh xem xét. Trong thời hạn 7 ngày phải ra quyết đinh khác,
quyết định lần này có hiệu lực thi hành.
Nh vậy, việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp phải
dựa trên một số nguyên tắc và tuân theo những thủ tục nhất định.
Qua việc khảo sát pháp luật phá sản của một số nớc có nền kinh tế thị
trờng phát triển trên thế giới có thể đi đến kết luận: thủ tục phá sản trong
pháp luật các quốc gia đó rất thống nhất với nhau mặc dù còn rất khác nhau
về mặt nội dung điều chỉnh pháp luật. Sở dĩ nh vậy là pháp luật của
Các nớc đó có những quan niệm tơng đồng về những nhóm lợi ích cần
đợc bảo vệ và phơng pháp bảo vệ một cách có hiệu quả những lợi ích đó bao
gồm các giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thụ tục yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn điều tra, đánh giá khả năng thanh toán
nợ của doanh nghiệp.
Giai đoạn thứ ba: - Nếu doanh nghiệp có khả năng phục hồi, toà án sẽ
mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp thông việc tổ chức hội nghị chủ nợ. Nếu
hội nghị chủ nợ tổ chức không thành thì toà án sẽ mở thủ tục tiếp theo.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
- Nếu doanh nghiệp không có khả năng phục hồi, Toà án sẽ mở thủ tục
phá sản nhằm thanh lý tài sản của doanh nghiệp.
Khác với thủ tục phá sản của các nớc kể trên, pháp luật phá sản Việt
Nam đợc thiết kế theo một thủ tục duy nhất áp dụng chung cho tất cả các
doanh nghiệp mắc nợ. Theo đó, việc phục hồi doanh nghiệp thông qua thiết
chế Hội nghị chủ nợ là một thủ tục có tính chất bắt buộc trong trình tự phá
sản của một doanh nghiệp. Và nh vậy, thủ tục phá sản doanh nghiệp ở Việt
Nam trải qua các bớc:
Bớc 1: Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Bớc 2: Điều tra, đánh giá khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp.
Bớc 3: Phục hồi doanh nghiệp thông qua thiết chế Hội nghị chủ nợ.
Bớc 4: Tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản doanh nghiệp.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Sơ đồ khái quát trình tự thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp theo
LDN:
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Chủ nợ (ko có bảo đảm,có bảo đảm
một phần, đại diện Công đoàn), chủ
DN, đại diện hợp pháp DN
Toà Kinh tế TAND tỉnh thụ lý
(nếu HS hợp lệ và nộp đủ lệ phí
theo qui định)
Có dấu hiệu phá sản Quyết định ko mở yêu cầu tuyên
bố phá sản DN
Quyết định mở yêu cầu tuyên
bố phá sản DN
Khiếu nại
Quyết định ko mở yêu cầu tyuên bố phá
sản DN
- Chỉ định thẩm phán
- Thành lập tổ quản lý tài sản
- Ân định thời điểm ngừng thanh toán
- Đăng báo (3 số báo liên tiếp T.Ư, ĐP)
- Khoá DS chủ nợ (60 ngày kể từ ngày đăng báo đầu tiên)
Đăng báo T.Ư, ĐP 3 số báo
liên tiếp
Hội nghị chủ nợ hợp lệ lần 1
( 1/2 số chủ nợ đại diện,
1/3 tổng số nợ ko có bảo
đảm)
Hội nghị chủ nợ hợp lệ lần 2
(chủ nợ đại diện 2/3 tổng số
nợ ko có bảo đảm)
Đình chỉ giải quyết
Hoà giải và đưa ra giải pháp tổ chức lại DN
Hoà giải thành và đưa ra giải pháp
tổ chức lại DN
Hết hạn hoà giải, vượt quá tình trạng
phá sản và ko có khiếu nại của chủ nợ
Đ
Ă
N
G
B
A
O
( 10
ngày)
Quyết định tuyên bố phá sản DN
Kháng nghị, khiếu nại quyết
định tuyên bố phá sản DN
Ra quyết định phúc thẩm
(Toà Kinh tế T.A.N.D.T.C)
Thi hành quyết định tuyên bố phá sản
DN
Nộp đơn
( 30 ngày)
Thời hạn 30 ngày
Không
( 30 ngày)
15 ngày
Có
7 ng
7 ng
Không
( 30 ng)
Không
Có
Không quá 2 năm
có
Không
30 ngày
60 ngày
Có
không
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
1 Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là quyền của
các chủ nợ. Riêng đối với doanh nghiệp mắc nợ thì đó vừa là quyền lợi vừa là
nghĩa vụ.
1.1 Chủ nợ:
ở nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trờng phát triển, việc phân loại chủ
nợ chỉ đợc tiến hành khi mở thủ tục phá sản, dựa trên cơ sở có hay không có
tài sản bảo đảm tại thời điểm mở thủ tục phá sản.
Chủ nợ không có bảo đảm là những chủ nợ trong quan giao dịch với
doanh nghiệp mắc nợ không có sự bảo đảm hoàn trả nợ bằng tài sản của
doanh nghiệp mắc nợ.
Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản nợ đợc bảo đảm bằng
tài sản của doanh nghiệp mắc nợ mà giá trị tài sản đảm bảo ít hơn khoản nợ
đó.
Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ đợc bảo đảm bằng tài sản
của doanh nghiệp mắc nợ nh: đã thế chấp cầm cố, bảo lãnh bằng tài sản khi
vay mợn, mua, sang nhợng tài sản khác.
Vậy trong số những chủ nợ này thì những ai có quyền nộp đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo qui định pháp luật. Theo Điều 7 Luật
phá sản doanh nghiệp (30/12/1993) thì chỉ có chủ nợ không có bảo đảm và
chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn lên Toà án nơi đặt trụ sở
chính của doanh nghiệp để yêu cầu Toà án giải quyết việc tuyên bố phá sản
doanh nghiệp. Nếu sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn
mà không đợc doanh nghiệp thanh toán nợ.
Khi nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, chủ nợ phải gửi
kèm theo bản sao giấy đòi nợ, các giấy tờ, các tài liệu chứng minh doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Và các chủ nợ còn phải nộp tiền
tạm ứng lệ phí trong trờng hợp này theo qui định của pháp luật.
Tuy vậy trên thực tế việc xác định và tiến hành phân loại chủ nợ không
phải là một công việc dễ dàng đối với toà án trong quá trình giải quyết tuyên
bố phá sản doanh nghiệp. Mặt khác thì việc xác định chủ nợ có bảo đảm một
phần dựa trên giá trị tài sản đợc dùng để bảo đảm nghĩa vụ tại thời điểm xác
lập giao dịch, mà nh hiện nay là không phù hợp vì trớc sự vận động và phát
triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trờng thì nó đã gây ra các thiệt hại cho
các chủ nợ. Vì vậy, có lẽ đó chỉ là giải pháp có tính chất quá độ ở nớc ta khi
các thị trờng hình thành cha đồng bộ và đặc biệt là thị trờng về các yếu tố sản
xuất.
Ngời lao động cũng có quyền đệ đơn yêu cầu giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp với tính cách là chủ nợ không có bảo đảm. Điều 8
Luật phá sản doanh nghiệp (30/12/1993) qui định: Trong trờng hợp doanh
nghiệp không trả đợc lơng cho ngời lao động 3 tháng liên tiếp thì đại diện
công đoàn hoặc đại diện ngời lao động nơi cha có tổ chức công đoàn có
quyền nộp đơn đến Toà án nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính yêu cầu giải
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Sau khi nộp đơn, đại diện công
đoàn đợc coi là chủ nợ (chủ nợ không có bảo đảm) khác với chủ nợ khác,
ngời lao động không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.
1.2 Doanh nghiệp mắc nợ:
Theo Điều 2 Luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993): Doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bi thua lỗ
trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần
thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.
Con nợ đợc hiểu là ngời chủ doanh nghiệp không có khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn. Trong Luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993)
của nớc ta coi con nợ chính là Doanh nghiệp mắc nợ họ có thể tiếp tục
tham gia tố tụng hoặc có thể uỷ quyền cho ngời khác mà pháp luật gọi là
Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp là ngời đợc chủ sở hữu doanh
nghiệp uỷ quyền theo qui định của pháp luật < Khoản 4 Điều 3 Luật phá sản
doanh nghiệp (31/12/1993) >.
Theo khoản 1 Điều 9 Luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993): Trong
trờng hợp đã thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính để
thanh toán các khoản nợ đến hạn, kể cả hoãn nợ mà doanh nghiệp vẫn không
thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, thì chủ
doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải nộp đơn đến
Toà án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu việc tuyên bố phá sản
doanh nghiệp. Đơn phải ghi rõ: Tên và địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp,
họ và tên của chủ doanh nghiệp hoặc ngời đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp; các biện pháp mà doanh nghiệp đã thực hiện nhng không thoát khỏi
tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; kèm theo đơn phải có danh
sách các chủ nợ và số nợ phải trả cho các chủ nợ, địa chỉ của các chủ nợ, bản
tờng trình về trách nhiệm của giám đốc, các thành viên của Hội đồng quản trị
của doanh nghiệp đối với tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, báo
cáo tình hình kinh doanh 6 tháng trớc khi không trả đợc nợ đến hạn, báo cáo
tổng kết 2 năm cuối cùng, nếu doanh nghiệp hoạt động cha đến 2 năm thì gửi
báo cáo tổng kết tài chính của cả thời gian hoạt động và các hồ sơ kế toán
liên quan ( Theo Khoản 2 Điều 9 LPSDN 31/12/1993). Thêm vào đó thì các
doanh nghiệp còn phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo qui định của pháp luật.
Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp khi đã lâm vào tình trạng
phá snả thì hầu hết không đủ điều khiện để thực hiện đúng trình tự theo quy
định của Luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993).
Hơn nữa, khi hớng dẫn các toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh,
Toà án nhân dân tối cao yêu cầu: mọi trờng hợp khi có đơn tới Toà án để yêu
cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì đều phải có xác nhận của
cơ quan kiểm toán đối với báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Khi cha có
xác nhận của cơ quan kiểm toán thì Toà án không mở thủ tục giải quyết yêu
cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Song tài liệu để phục vụ kiểm toán rất
nan giải vì không ít các doanh nghiệp không có hoặc không còn sổ sách kế
toán, đặc biệt là các doanh nghiệp t nhân. Thêm nữa là chi phí kiểm toán rất
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
cao và các doanh nghiệp khi đang lâm vào tình trạng phá sản không có khả
năng nộp khoản lệ phí này nên dẫn đến tình trạng không có tài liệu kiểm
toán. Do vậy trên thực tế, số doanh nghiệp trong tình trạng phá sản rất nhiều
nhng số vụ Toà án thụ lý lại rất ít. Bên cạnh đó thì các Toà án không đủ kinh
phí để chi phí cho việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp,
thậm chí cả chi phí đăng báo, chi phí phục vụ kiểm toán
1.3 Toà án thụ lý và giải quyết:
Theo qui định của luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993): Toà án
kinh tế thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh là cơ quan thụ lý và giải quyết yêu
cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Toà án thụ lý đơn phải vào sổ và cấp cho ngời nộp đơn giấy báo đã
nhận đợc đơn và các giấy tờ kèm theo đơn. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày
thụ lý đơn, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp mắc nợ
biết, có bản sao đơn và các tài liệu liên quan kèm theo <Theo Điều 12
LPSDN 31/12/1993>.
2 - Điều tra, đánh giá khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp:
Mục đích của việc điều tra, đánh giá khả năng thanh toán nợ của
doanh nghiệp là để ra quyết định mở hay không mở thủ tục giải quyết yêu
cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp, chánh toà kinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh phải xem xét
đơn và các tài liệu có liên quan để ra một trong hai quyết định:
Một là: quyết định không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá
sản nếu xét thấy không đủ căn cứ. Quyết định này phải thực hiện thành văn
bản, ghi rõ lý do và đợc gửi cho ngời làm đơn cũng nh doanh nghiệp mắc nợ.
Hai là: Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản nếu
xét thấy đã đầy đủ căn cứ. Theo Điều 15 LPSDN, quyết định này phải đảm
boả nội dung sau đây:
Thứ nhất là: Nêu rõ lý do mở thủ tục yêu cầu giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp.
Thứ hai là: ấn định thời điểm ngừng thanh toán nợ của doanh nghiệp.
Thứ ba là: Họ và tên của thẩm phán phụ trách việc yêu cầu tuyên bố
phá sản doanh nghiệp và các nhân viên của tổ quản lý tài sản chỉ định.
Mọi khiếu nại của đơng sự đối với quyết định mở hay không mở thủ
tục yêu cầu tuyên bố phá sản sẽ đợc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh giải
quyết theo trình tự giải quyết khiếu nại (theo quy định trong Điều 15 LPSDN
31/12/1993).
2.1 Nhiệm vụ của thẩm phán và tổ quản lý tài sản:
Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đợc tiến hành
thông qua hoạt động của thẩm phán và tổ quản lý tài sản. Tuỳ thuộc tính chất
và qui mô của vụ phá sản, Chánh toà án kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh chỉ
định một thẩm phán hay tập thể gồm 3 thẩm phán để giải quyết. Trờng hợp
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
chỉ định 3 thẩm phán thì một thẩm phán đợc giao nhiệm vụ phụ trách. Theo
qui định tại Điều 16 LPSDN, thẩm phán có quyền và nhiệm vụ:
* Thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan để lập hồ sơ giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
* Giám sát, kiểm tra hoạt động của các nhân viên trong tổ quản lý tài
sản.
* Ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trờng
hợp cần thiết theo qui định của pháp luật để đảm bảo tài sản của doanh
nghiệp mắc nợ.
* Triệu tập và chủ trì hội nghị chủ nợ.
* Ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
* Tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
* Nếu phát hiện có dấu hiệu phạm tội thì cung cấp tài liệu cho viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp xem xét để khởi tố hình sự.
Về nội dung, quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp bào gồm các việc chỉ định tổ quản lý tài sản. Vì vậy, trớc
khi ra quyết định, Chánh toà kinh tế phải có công văn yêu cầu các cơ quan
liên quan cử ngời tham gia tổ quản lý tài sản. Thành phần tổ quản lý tài sản
gồm: Một cán bộ toà án kinh tế thuộc TAND cấp tỉnh làm tổ trởng ( do
Chánh toà kinh tế chỉ định). Một chấp hành viên phòng thi hành án (do trởng
phòng thi hành án chỉ định); Chủ nợ có số tiền nhiều nhất (trờng hợp có
nhiều chủ nợ có số nợ ngang nhau thì chọn trong só đó, cho đến khi Hội nghị
chủ nợ chính thức cử ngời đại diện); Một đại diện cho doanh nghiệp mắc nợ;
Một đại diện của công đoàn doanh nghiệp; Một đại diện của sở tài chính (do
Giám đốc sở tài chính cử) và Một đại diện ngân hàng nhà nớc cấp tỉnh.
Ngoài ra, nếu xét thấy cần thiết Chánh án Toà kinh tế cấp tỉnh có thể
mời thêm các chuyên gia khác nhau tham gia vào tổ quản lý tài sản (kiểm
toán, giám định, bán đấu giá tài sản ).
Nhiệm vụ của tổ quản lý tài sản là giám sát, kiểm tra hoạt động của
doanh nghiệp từ khi có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản doanh nghiệp đến khi có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp
của Toà án. Bên cạnh đó, tổ trởng tổ quản lý tài sản có quyền yêu cầu thẩm
phán ra quyết định buộc doanh nghiệp thực hiện hoặc không thực hiện một
số hành vi cụ thể nhằm bảo toàn tài sản.
Tuy nhiên, thực tế áp dụng LPSDN trong những năm qua đã chứng tỏ
rằng đây là một thiết chế kém hiệu quả, chậm trễ và tốn kém. Trong con mắt
các nhà luật gia về phá sản ở những nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển thì
đây là một thíêt chế không chuyên nghiệp và bị ảnh hởng quả nhiều bởi tệ
quan liêu và hành chính do cơ chế phối hợp giữa các thành viên trong tổ là
không rõ ràng. Song thiết chế này vẫn còn rất cần thiết đối với Việt Nam khi
mà hoạt động của các quản trị viên chuyên nghiệp trong lĩnh vực phá sản cha
chuyên nghiệp để trở thành một nghề đợc xã hội công nhận.
2.2 ấn định thời điểm ngừng thanh toán nợ:
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét