Có thể nói trong bốn phương pháp trên thì phương pháp bình quân gia
quyền được áp dụng rỗng rãi hơn cả vì hàng hoá trong doanh nghiệp biến động
hàng ngày nhưng việc xác định giá thành của sản phẩm không thể tiến hành
hàng ngày mà thường tính vào cuối kỳ hạch toán.
1.1.3.2) Đánh giá theo giá hạch toán
Giá hạch toán là giá do doanh nghiệp quy định có tính chất ổn định lâu
dài. Giá này thường là giá kế hoạch hoặc giá hàng hoá bình quân năm trước hay
giá nhập kho thống nhất quy định. Cuối kỳ sau khi tính được giá thành thực tế
hàng hoá nhập kho, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh giá hạch toán bằng giá thực
tế bằng công thức:
Giá thực tế Hàng hoá
xuất trong kỳ
(hoặc tồn kho cuối kỳ)
=
Hệ số giá
hàng hoá
*
Giá hạch toán hàng hoá xuất
kho trong kỳ
(hoặc tồn kho cuối kỳ)
Trong đó:
Hệ số giá
=
Giá hạch toán HH tồn đầu kỳ + Giá hạch toán HH nhập trong kỳ
Giá thực tế HH tồn kho đầu kỳ + Giá thực tế HH nhập trong kỳ
Trên đây là những phương pháp đánh giá hàng hoá nhập - xuất kho. Mỗi
phương pháp đều ưu nhược điểm riêng. Vì vậy doanh nghiệp cần căn cứ vào
tình hình hoạt động kinh doanh thực tế để lựa chọn ra những phương pháp phù
hợp nhất với Doanh nghiệp.
5
1.2) Công tác tiêu thụ hàng hoá
1.2.1) Khái niệm về tiêu thụ hàng hoá
Hàng hoá của doanh nghiệp được đem bán để thu hồi vốn thực hiện quá
trình tái kinh doanh. Tiêu thụ hàng hoá hay còn gọi là bán hàng để chuyển hoá
vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị (Hàng =>tiền).
Tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình kinh doanh. Việc tiêu thụ này có
thể để thỏa mãn nhu cầu của các đơn vị khác hoặc của cá nhân trong và ngoài
doanh nghiệp. Hàng hoá cùng có thể được cung cấp giữa các đơn vị trong cùng
một công ty, một tập đoàn…gọi là tiêu thụ nội bộ.
Đế xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh thì công tác quản lý
bán hàng là hết sức cần thiết. Bởi vậy quản lý khâu bán hàng cần bám sát các
yêu cầu cơ bản sau:
- Nắm chắc sự vận động của từng loại hàng hoá trong quá trình nhập xuất
và tồn kho trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng giá trị.
- Nắm bắt, theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thể thức
thanh toán, từng loại hàng hoá tiêu thụ và từng loại khách hàng, đôn đốc
thu hồi nhanh và đầy đủ vốn.
- Tính toán, xác định đúng đắn kết quả tiêu thụ trong toàn bộ kết quả từng
hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện nghiêm túc chế độ phân phối
lợi nhuận, đảm bảo thực hiện đầy đủ đối nghĩa vụ với ngân sách nhà
nước.
- Theo dõi chặt chẽ các trường hợp làm giảm doanh thu bán hàng.
1.2.2) Nhiệm vụ của kế toán hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá
Để có thể phát huy hết vai trò của mình, trở thành công cụ quản lý có hiệu
quả đáp ứng được yêu cầu quản lý hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá phải thực hiện
các nhiệm vụ dưới đây.
- Tổ chức phân loại và đánh giá thống nhất, đúng theo các loại hàng hoá
trong doanh nghiệp theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá
trị.
6
- Tổ chức hệ thống chứng từ, sổ chi tiết, sổ tổng hợp theo phương pháp
hạch toán hàng tồn kho thích hợp trong điều kiện thực tế của đơn vị hạch
toán và đặc điểm của đơn vị hạch toán.
- Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán hàng hoá theo các chỉ tiêu nhập, xuất,
tồn kho trên các báo cáo theo yêu cầu quản lý.
- Tổ chức hợp lý quy trình, thủ tục cho nghiệp vụ bán hàng. Đây chính là
căn cứ để ghi chép các thông tin cần thiết về nghiệp vụ bán hàng.
- Tổ chức hợp lý hệ thống sổ kế toán chi tiết nghiệp vụ bán hàng( Sổ chi
tiết giá vốn, doanh thu, kết quả tiêu thụ).
- Tổ chức hợp lý hệ thống sổ kế toán tổng hợp để ghi chép các nghiệp vụ
bán hàng phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp.
- Tổng hợp kịp thời, chính xác số liệu liên quan đến quá trình bán hàng, từ
đó cung cấp các thông tin cần thiêt cho quản lý và cho việc lập báo cáo kế
toán cuối kỳ.
1.2.3) Phương thức tiêu thụ hàng hoá.
Mục tiêu của các doanh nghiệp là thu hồi được số vốn đã bỏ ra ban đầu để
tiến hành hoạt động kinh doanh và đạt được lợi nhuận mong muốn. Muốn thu
hồi vốn để tái đầu tư kinh doanh mở rộng, doanh nghiệp phải tiêu thụ (bán) được
số sản phẩm này. Quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được thực hiện
thông qua quá trình bán hàng. Vì vậy có thể nói tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa rất
quan trọng đối với doanh nghiệp, nó còn thực hiện chuyển hoá vốn từ hình thái
hiện vật sang hình thái giá trị - tiền tệ.
Có thể hiểu “Bán hàng là việc doanh nghiệp chuyển giao phần lớn lợi ích
và rủi ro gắn liền với quyền sở hữu cho khách hàng, đồng thời được khách hàng
thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán” (Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 13 về
doanh thu và thu nhập khác).
Cùng với sự phát triển của mạng lưới phân phối tiêu thụ cũng như những
tiến bộ khoa học Marketing, ngày nay doanh nghiệp có thể có rất nhiều phương
thức bán hàng đa dạng và hiệu quả để nâng cao doanh số. Có các phương thức
tiêu thụ như sau:
7
- Bán hàng trực tiếp
- Phương thức gửi bán
- Bán hàng Dự án
1.2.4) Phương thức thanh toán
Trong quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp với khách hàng việc thanh
toán tiền hàng có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như:
- Thanh toán ngay: Bằng tiền mặt, hoặc có thể chuyển khoản qua ngân
hàng.
- Thanh toán bù trừ: Khách hàng đã ứng trước cho doanh nghiệp một khoản
tiền, sau khi nhận hàng thì số tiền hàng còn phải trả được bằng tính bằng
tổng giá thanh toán bù trừ số tiền hàng đã ứng trước.
- Cho nợ: đối với khách hàng quen, có uy tín, doanh nghiệp có thể bán chịu
trong một thời gian nhất định.
- Trả góp: doanh nghiệp cho phép khách hàng được trả dần khoản nợ theo
từng khoảng thời gian nhất định. Hình thức thanh toán này do chính sách
tín dụng của doanh nghiệp quy định.
1.3) Phương pháp kế toán hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá
1.3.1) Nguyên tắc hạch toán.
Hàng hoá của doanh nghiệp thông thường gồm nhiều loại hàng với phẩm
cấp, mẫu mã khác nhau…nên chúng có yêu quản lý hạch toán không giống
nhau. Do đó, với tính chất đa dạng, phức tạp như vậy để quản lý và hạch toán
chặt chẽ hàng hoá đòi hỏi công tác kế toán hàng hoá cần phải tuân thủ các
nguyên tắc sau:
- Tổ chức hạch toán hàng hoá theo từng loại, từng đơn vị sản xuất theo số
lượng, chất lượng, giá trị hàng hoá.
- Phân công và kết hợp trong việc ghi chép kế toán hàng hoá giữa phòng kế
toán với nhân viên kinh doanh, giữa kế toán hàng hoá với thủ kho, đảm
bảo hàng hoá được phản ánh kịp thời, chặt chẽ.
- Kế toán nhập, xuất, tồn kho hàng hoá phải được đánh giá theo giá thành
thực tế.
8
- Sự biến động của hàng hoá, do nhiều nguyên nhân nên để phản ánh được
tình hình biến động của hàng hoá, doanh nghiệp phải tổ chức công tác ghi
chép ban đầu một cách khoa học và hợp lý.
1.3.2) Hạch toán chi tiết hàng hóa.
a. Chứng từ sử dụng trong kế toán hàng hoá.
Chứng từ là bằng chứng để chứng minh sự phát sinh một nghiệp vụ
kinh tế và thực sự hoàn thành. Chứng từ kế toán là cơ sở pháp lý cho mọi số
liệu trên mọi tài khoản, sổ kế toán, báo cáo kế toán. Công tác hạch toán ban
đầu là luân chuyển chứng từ và xử lý chứng từ là nội dung quan trọng của
công tác kế toán. Mọi thứ biến động của hàng hoá phải được phản ánh, ghi
chép vào chứng từ ban đầu phù hợp theo đúng nội dung quy định. Những
chứng từ này là cơ sở pháp lý để hạch toán nhập, xuất kho hàng hoá, là cơ sở
để kiểm tra tính chính xác của sổ sách kế toán, đảm bảo ghi chép những nội
dung cần thiết và tính hợp pháp của chứng từ. Do chức năng quan trọng của
chứng từ nên dễ kiểm tra, quản lý tình hình tài chính của doanh nghiệp, Bộ
tài chính quyết định các chứng từ được sử dụng trong kế toán xuất, nhập
hàng hoá là: (Nguồn 48/2006/QĐ – BTC)
Phiếu nhập kho, phiếu nhập kho (Mẫu 01 – VT)
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (Mẫu 03 –PXK – 3LL)
Biên bản kiểm nghiệm vật tư ( 03 – VT)
Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hoá (05 – VT)
Hoá đơn thuế GTGT (Mẫu 01 GTKT – 3LL)
Hoá đơn bán hàng thông thường (02 GTGT – 3LL)
Phiếu xuất kho hàng gửi đại lý (Mẫu 04 HDL – 3LL)
Các chứng từ này phải được luân chuyển đúng thời hạn, chính xác và đầy đủ.
Căn cứ vào đó, kế toán kiểm tra tính hợp pháp và tiến hành phân loại tổng hợp
ghi sổ kế toán thích hợp.
b) Kế toán chi tiết hàng hoá
9
Kế toán chi tiết hàng hoá là việc ghi chép số liệu, luân chuyển chứng từ
giữa kho và phòng kế toán trên các chỉ tiêu số lượng, giá trị hàng hoá theo từng
loại, từng kho hàng hoá riêng.
Phương pháp ghi thẻ song song
Theo phương pháp ghi thẻ song song, công việc cụ thể tại kho và phòng kế toán
như sau;
- Ở kho: Thủ kho mở thẻ kho để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn hàng
hoá. Cuối tháng, thủ kho phải tiến hành cộng số nhập, xuất, tính ra số tồn kho về
mặt số lượng theo từng danh điểm hàng hoá
- Ở Phòng kế toán: kế toán hàng hoá mở thẻ kế toán chi tiết cho từng danh
điểm hàng hoá tương ứng với thẻ kho, chỉ khác là theo dõi về cả mặt giá trị.
Hàng ngày hoặc định kỳ, khi nhận được các chứng từ nhập, xuất kho do thủ kho
chuyển tới, nhân viên kế toán phải kiểm tra đối chiếu và ghi đơn giá hạch toán
vào thẻ kế toán chi tiết hàng hoá và tính ra số tiền. Sau đó lần lượt ghi các
nghiệp vụ nhập, xuất vào các thẻ chi tiết hàng hoá có liên quan. Cuối tháng tiến
hành cộng thẻ và đối chiếu với thẻ kho.
Để lập bảng đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, kế toán
lập bảng tổng hợp nhập xuất tồn kho về mặt giá trị của hàng hoá.
Ta có thể khái quát nội dung, trình tự kế toán chi tiết hàng hoá theo
phương pháp ghi sổ song song như sau:
10
Thẻ Kho
Bảng kê tổng hợp
N-X-T hàng hoá
Sổ kế toán chi tiết
hàng hoá
Chứng từ xuất
Chứng từ
nhập
Sơ đồ 1: Kế toán chi tiết hàng hoá theo phương pháp thẻ song song
Ghi hàng ngày
Đối chiếu kiểm tra
Ghi cuối tháng
Phương pháp đối chiếu luân chuyển.
Tại kho: Thủ kho vẫn sử dụng các thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất,
tồn của từng hàng hoá về mặt số lượng (Giống như phương pháp ghi thẻ song
song).
Tại phòng kế toán: Để theo dõi tình hình nhập - xuất hàng hoá về mặt số
lượng và giá trị kế toán dúng sổ luân chuyển. Nhưng có đặc điểm là chỉ ghi chép
một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp tổng hợp các chứng từ nhập, xuất
trong tháng làm hạn chế tính ghi sổ kịp thời của kế toan.
Phưong pháp ghi sổ số dư
Tại kho: Thủ kho dùng thẻ kho để ghi chép nhập, xuất, tồn kho hàng hoá về
mặt số lượng. Cuối tháng, ghi sổ tồn kho đã tính trên thẻ kho vào sổ số dư cột số
lượng.
Tại phòng kế toán: Kế toán mở sổ số dư theo dõi từng kho dùng cả năm để
ghi chép tình hình nhập - xuất. Từ các bảng kê nhập - xuất kế toán lập bảng luỹ
kế nhập, xuất và từ bản luỹ kế này lập bảng tổng hợp nhập xuất, tồn từng nhóm,
loại hàng hoá theo chỉ tiêu giá trị. Cuối tháng thủ kho gửi số dư lên, kế toán căn
cứ vào số tồn kho cuối tháng này và đơn giá hạch toán tính ra gía trị tồn kho để
ghi vào cột số tiền trên sổ dư, bảng tổng hợp nhập xuất, tồn và số liệu kế toán
tổng hợp.
11
1.3.3) Kế toán tổng hợp hàng hoá
Kế toán tổng hợp hàng hoá là việc sử dụng thước đo giá trị để phản ánh, ghi
chép và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến hàng hoá trên sổ
kế toán tổng hợp, tài khoản kế toán và báo cáo tài chính.
Kế toán tổng hợp hàng hoá sử dụng một số tài khoản chủ yếu như sau:
- Tài khoản 156 “Hàng hoá” Được dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình
hình thực tế của các loại hàng hoá của doanh nghiệp, bao gồm hàng hoá
tại các kho hàng, quầy hàng.
TK 156 có 3 tài khoản cấp 2
- TK 1561 “Giá mua hàng hoá”
- TK 156.2 “Chi phí thu mua hàng hoá”
- TK 156.7 “Hàng hoá bất động sản”
Kết cấu tài khoản 156
+ Bên Nợ: -Giá mua vào của hàng hoá nhập kho, nhập quầy
-Chi phí thu mua hàng hoá thực tế phát sinh
-Trị giá hàng hoá bị người mua trả lại nhập kho, nhập quầy.
-Trị giá hàng hoá phát hiện thừa khi kiểm kê.
+ Bên Có: -Trị giá mua thực tế của hàng hoá xuất kho
-Chi phí thu mua phân bổ cho hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
-Các khoản bớt giá, giảm giá, hồi khấu hàng mua
-Trị giá hàng hoá phát hiện thiếu tại kho
Dư Nợ: -Trị giá mua vào của hàng hoá tồn
-Chi phí thu mua của hàng hoá tồn kho, hàng gửi bán
+) Tài khoản 157 “Hàng gửi đi bán” được dùng để phản ánh giá trị của hàng
hoá, sản phẩm đã gửi hoặc đã chuyển cho khách hàng hoặc nhờ đại lý ký gửi,
giá trị của lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành bàn giao cho người đặt hàng nhưng
chưa được chấp nhận thanh toán. Hàng hoá phản ánh trên tài khoản này vẫn
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
- Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”: Được dùng để phản ánh trị giá vốn của
hàng hoá, lao vụ, dịch vụ xuất bán trong kỳ.
12
* Phương pháp hạch toán:
+ Phương pháp hạch toán tổng hợp hàng hoá theo phương pháp kê khai
thường xuyên có thể được ghi khái quát theo sơ đồ sau. Đây là phương pháp
được áp dụng ở hầu hết các doanh nghiệp hiện nay, mỗi nghiệp vụ nhập - xuất
tồn kho hàng hoá được thực hiện trên các TK một cách thường xuyên theo các
chứng từ nhập, xuất.
Sơ đồ 2: kế toán theo phương pháp KKTX
+
Phương pháp hạch toán tổng hợp hàng hoá theo phương pháp kiểm kê định
kỳ có thể được khái quát theo sơ đồ sau. Đây là phương pháp hạch toán mà mỗi
nghiệp vụ, xuất tồn kho hàng hoá không được ghi hàng ngày vào tài khoản, mà
cuối kỳ mới tiến hành kiểm kê số hàng hoá tồn kho để tính ra số đã xuất kho
trong kỳ và ghi sổ một lần. Phương pháp nay ít được áp dụng trong các doanh
nghiệp.
13
Mua ngoài về nhập kho Xuất bán trả lương
TK 632
TK157, 632
Sản phẩm gửi bán đại lý
Xuất bán ký gửi
Xuất vốn góp liên doanh
Thiếu khi kiểm kê kê
Thừa khi kiểm kê
TK 338.1
TK 128
Đánh giá tăng
thưởng, biếu tặng
hoặc hàng bán bị trả lại
TK 412
TK 157
TK 156 TK 632TK 111, 122
Sơ đồ 3: Kế toán hàng hoá theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Dù doanh nghiệp hạch toán theo phương pháp nào thì cuối kỳ kế toán xác
định kết chuyển trị giá vốn của hàng hoá xuất kho đã được xác định là tiêu thụ
để xác định kết quả kinh doanh theo định khoản:
Nợ TK 911: Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 632 : Giá vốn hàng bán
1.3.4) Kế toán tiêu thụ hàng hoá trong Doanh nghiệp
Tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn tiếp theo của quá trình kinh doanh. Đó là
việc cung cấp cho khách hàng các sản phẩm, lao vụ, dịch vụ do doanh nghiệp
sản xuất ra và đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh
toán
1.3.4.1) Kế toán Doanh thu.
a.1) Kế toán Doanh thu bán hàng – TK 511
TK này phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp thực hiện
trong một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh thu thực tế là doanh thu của
sản phẩm, hàng hoá…đã xác định là tiêu thụ gồm: Trường hợp bán hàng thu
được tiền ngay và chưa thu tiền nhưng khách hàng đã chấp nhận thanh toán.
Để hạch toán doanh thu tiêu thụ, kế toán sử dụng TK 511 “Doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ” với kết cấu:
+Bên Nợ: - Số thuế phải nộp tính trên doanh số bán trong kỳ
- Số giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại và chiết khấu
thương mại kết chuyển trừ vào doanh thu.
- Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ
Kế chuyển giá trị HH
Chưa bán được đầu kỳ
Giá trị HH bán ra trong kỳ
Kết chuyển giá trị của
TK 631
Kế chuyển giá trị HH
Kết chuyển giá vốn của
TK 911
TK 138
Chưa bán được cuối kỳ
những HH đã bán ra trong kỳ
HH xuất không bán được trong kỳ
TK 156, 157
TK 632 TK 156, 157
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét