Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Phát triển các hoạt động hỗ trợ khách hàng thông qua giao dịch trực tuyến tại CTCP chứng khoán Châu Á Thái Bình Dương

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
1.1.1.2. Đặc điểm của CTCK
Là một chủ thể kinh doanh, CTCK cũng có những điểm tương đồng với
các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, sản phẩm và dịch vụ mà CTCK cung cấp
đều liên quan đến chứng khoán đã làm cho CTCK mang những đặc trưng
khác riêng. Không những thế các CTCK ở các nước khác nhau cũng có thể có
điểm khác nhau, thậm chí ở trong cùng một quốc gia các CTCK vẫn có nhiều
sự khác biệt tùy thuộc vào tính chất hoạt động của công ty và mức độ phát
triển của thị trường. Song xét về bản chất các CTCK có một số đặc trưng cơ
bản sau :
• Về loại hình tổ chức của CTCK
Trong lịch sử và trên thực tế, CTCK đã từng được tồn tại dưới nhiều loại
hình tổ chức như công ty cổ phần, doanh nghiệp góp vốn, doanh nghiệp tư
nhân, doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp liên doanh. Mỗi loại hình này
đều có những ưu thế, bất lợi riêng, trong đó loại hình doanh nghiệp: công ty cổ
phần và công ty trách nhiệm hữu hạn với những ưu điểm về quyền sở hữu, khả
năng huy động vốn, năng lực điều hành, tư cách pháp lý… rất phù hợp với
nghiệp vụ chứng khoán đã trở thành sự lựa chọn phổ biến ở các quốc gia.
• Về mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán
Việc xác định mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK không đơn giản
chỉ là quyết định của bản thân công ty mà hơn thế nó mang tính pháp luật, thể
hiện ở chỗ: những người làm công tác quản lý Nhà nước sẽ cân nhắc, lựa
chọn ra mô hình phù hợp nhất với đặc điểm của hệ thống tài chính, hệ thống
pháp luật, mức độ phát triển của nền kinh tế. Từ đó, các CTCK chỉ được phép
hoạt động theo những mô hình đã lựa chọn.
Hiện nay, trên thế giới có hai mô hình phổ biến về CTCK:
- Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các CTCK
độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân
hàng không đuợc tham gia vào kinh doanh chứng khoán.
Với ưu điểm hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho
TTCK phát triển, mô hình này đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp
dụng, trong đó có các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Canada,
Thái Lan…
Những năm gần đây, các nước áp dụng mô hình này có xu hướng nới
lỏng dần những hạn chế đối với ngân hàng thương mại trong nghiệp vụ kinh
doanh chứng khoán, từng bước xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa loại hình kinh
doanh tiền tệ và kinh doanh chứng khoán.
- Mô hình công ty đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại được phép thực hiện các
nghiệp vụ chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này chia
thành 2 loại:
+ Loại đa năng một phần: Muốn tham gia kinh doanh chứng khoán trên
TTCK, các ngân hàng thương mại phải thành lập CTCK trực thuộc, hạch toán
độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ.
+ Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng thương mại được phép tham
gia hoạt động kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh
doanh tiền tệ và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật.
Mô hình đa năng có ưu điểm là các ngân hàng thương mại có thể thực
hiện đa dạng hóa, giảm bới rủi ro, tăng khả năng chịu đựng những biến động
của thị trường tài chính. Bên cạnh đó, ngân hàng còn tận dụng được thế mạnh
về chuyên môn, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn, mạng lưới khách hàng để kinh
doanh chứng khoán. Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ những hạn chế nhất
định như không thúc đẩy được thị trường cổ phiếu phát triển vì các ngân hàng
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
có xu hướng bảo thủ thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ
trên thị trường chứng khoán như: bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng
khoán, quản lý danh mục đầu tư. Và một khi thị trường có biến động thì nó có
thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng nếu các ngân
hàng không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh tiền tệ và kinh doanh
chứng khoán.
• Về tính chuyên môn hóa và phân cấp quản lý
Các CTCK chuyên môn hóa ở mức độ cao trong từng bộ phận, từng
phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ.
Nếu như ở các doanh nghiệp sản xuất, trong quy trình sản xuất sản phẩm
giữa các khâu phải có mắt xích kết nối, một sản phẩm ra đời nó phải trải qua tất
cả các công đoạn một, không thể thiếu một công đoạn nào. Trong khi đó, toàn bộ
các nghiệp vụ của CTCK đều phục vụ cho các giao dịch chứng khoán những
mỗi một nghiệp vụ lại liên quan đến một góc cạnh riêng. Các phòng ban khác
nhau đảm nhiệm các công việc khác nhau như: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát
hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và ngay cả trong từng bộ phận các công việc
đều được phân công cụ thể, rõ ràng đến từng nhân viên.
Từ trình độ chuyên môn hóa cao độ dẫn đến phân cấp quản lý và làm
nảy sinh việc có quyền tự quyết. Các bộ phận trong CTCK nhiều khi không
phụ thuộc lẫn nhau (ví dụ bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh, hay môi giới
và bộ phận bảo lãnh phát hành). Giữa các phòng ban có một sự độc lập tương
đối, mối liên kết không phải mật thiết, hữu cơ như trong các doanh nghiệp sản
xuất khác. Chính vì vậy hoạt động hay cơ cấu của phòng ban này không tác
động nhiều đến phòng ban khác.
• Về nhân tố con người
Sản phẩm càng trừu tượng thì nhân tố con người càng quan trọng. Chứng
khoán là một loại tài sản tài chính đặc biệt mà việc thẩm định chất lượng của
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
nó không phải giống như hàng hóa thông thường. Sự có mặt của môi giới trên
TTCK là cần thiết khi người đầu tư không biết được nhiều thông tin hay
không có khả năng phân tích thông tin một cách thích hợp để từ đó đánh giá
và quyết định hướng sử dụng vốn của mình.
Đối với các CTCK, với chức năng là tổ chức trung gian tài chính thì
khách hàng là mục tiêu số một, mục tiêu quan trọng nhất. Khách hàng của
CTCK gồm các công ty phát hành chứng khoán, nhà đầu tư chứng khoán.
Như vậy, khách hàng của CTCK cũng là chủ thể tham gia trên TTCK có tư
cách là người đại diện cho nguồn cung hoặc nguồn cầu chứng khoán. Để có
thể tồn tại và phát triển, CTCK phải thực hiện nguyên tắc “biết khách hàng
của mình”, nắm rõ khả năng tài chính của khách hàng, tư vấn cho khách hàng,
giữ gìn đạo đức kinh doanh và tôn trọng khách hàng, luôn luôn đặt khách
hàng lên trên hết.
Làm được điều này, CTCK phải dựa vào chất lượng chuyên môn, đạo
đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên và cán bộ quản lý trong công ty. Do
đó, ở bất kỳ thời điểm nào CTCK cũng thực sự chú trọng đến nhân tố con
người, thể hiện ở những điểm sau:
+ Thuê nhân viên phù hợp
+ Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
+ Có chế độ đãi ngộ và khuyến khích nhân viên
+ Có chính sách ưu đãi đối với nhân viên phù hợp với chiến lược quản lý
nhân lực
Có một điểm đặc biệt mà CTCK khác với các công ty khác, đó là trong
CTCK việc thăng tiến cất nhắc lên những vị trí cao hơn là không quan trọng.
Các chức vụ quản lý hay giám đốc trong công ty còn có thể nhận được ít thù
lao hơn so với một số nhân viên cấp dưới.
• Về ảnh hưởng của thị trường tài chính
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
Rõ ràng, CTCK tham gia hoạt động trực tiếp trên TTCK thì bất kỳ một
biến động nào của TTCK nói riêng và thị trường tài chính nói chung đều tác
động sâu sắc đến chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và doanh thu của CTCK.
Thị trường tài chính, TTCK càng phát triển càng tạo ra nhiều công cụ tài
chính, có thêm nhiều dịch vụ, mở rộng phạm vi kinh doanh và quan đó một
mặt tạo cơ hội thu lợi nhuận cho CTCK, mặt khác buộc các CTCK phải cải
tiến, sáng tạo không ngừng để thích nghi với môi trường hoạt động.
Tùy thuộc vào mức độ phát triển, quy mô của thị trường, phương thức
kinh doanh của chủ sở hữu, khách hàng… cơ cấu tổ chức của các CTCK cũng
khác nhau để đáp ứng những nhu cầu riêng, từ đơn giản đến phức tạp. Nếu ở
một số nước như Mỹ, Nhật Bản CTCK có cơ cấu tổ chức rất phức tạp thì ở
các nước mới có TTCK như ở Đông Âu, Trung Quốc cơ cấu tổ chức của các
CTCK lại đơn giản hơn nhiều.
• Về cơ cấu tổ chức của CTCK
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào quy mô kinh doanh và các
nghiệp vụ mà công ty được phép hoạt động. Mặt khác nó còn căn cứ vào tính
chất sở hữu của CTCK.
Theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một CTCK chia thành 2 khối
chủ yếu: khối nghiệp vụ và khối phụ trợ.
- Khối nghiệp vụ: khối này thực hiện các giao dịch chứng khoán và tạo
ra phần lợi nhuận chủ yếu cho công ty. Tương ứng với các nghiệp vụ do khối
này đảm nhiệm sẽ có những phòng ban nhất định, gồm
+ Phòng môi giới
+ Phòng tự doanh
+ Phong bảo lãnh phát hành
+ Phòng quản lý danh mục đầu tư
+ Phòng tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
+ Phòng ký quỹ
- Khối phụ trợ: khối này không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh mà có chức năng phụ trợ cho các nghiệp vụ này. Thông thường khối
này bao gồm các phòng:
+ Phòng nghiên cứu và phát triển
+ Phòng phân tích và thông tin thị trường
+ Phòng kế hoạch công ty
+ Phòng phát triển sản phẩm mới
+ Phòng công nghệ tin học
+ Phòng pháp chế
+ Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ
+ Phòng ngân quỹ
+ Phòng tổng hợp hành chính nhân sự
1.1.1.3. Vai trò của CTCK
Khi xuất hiện CTCK với tư cách là tổ chức trung gian tài chính thì CTCK
đã góp phần làm cho kênh huy động vốn trung và dài hạn trở nên thông suốt,
dễ dàng hơn, san sẻ bớt gánh nặng cho hệ thống ngân hàng thương mại.
Trên TTCK, CTCK có 3 chức năng cơ bản sau:
- Tạo cơ chế huy động vốn bằng cách làm cầu nối gặp gỡ giữa những
người có tiền nhàn rỗi với những người cần vốn.
- Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch
- Tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
Xem xét tất cả các khía cạnh của CTCK, từ đặc điểm đến chức năng
cho ta thấy được vai trò quan trọng không thể thiếu được của CTCK đối với
sự tồn tại và phát triển của TTCK
• Vai trò đối với các tổ chức phát hành
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
Trên lý thuyết, khi doanh nghiệp cần huy động vốn bằng cách phát hành
chứng khoán, họ có thể tự chào bán khối lượng chứng khoán đến các nhà đầu
tư. Tuy nhiên, họ khó có thể làm tốt điều này bởi một lẽ họ không có bộ máy
chuyên nghiệp. Cần có những nhà chuyên nghiệp mua bán chứng khoán cho
họ. Mặt khác nguyên tắc trung gian của TTCK không cho phép nhà đầu tư và
nhà phát hành trực tiếp mua bán chứng khoán mà phải thông qua tổ chức trung
gian mua bán. Do vậy, các CTCK với cơ cấu tổ chức thích hợp, trình độ chuyên
môn, thành thạo nghiệp vụ thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành, đại lý phát
hành giúp di chuyển dòng vốn từ nhà đầu tư đến tổ chức phát hành.
• Vai trò đối với nhà đầu tư
Trên TTCK, giá cả các loại hàng hóa biến động thường xuyên. Trong khi
đó các nhà đầu tư không phải ai cũng có đủ điều kiện, khả năng nắm bắt hoặc
xử lý được các thông tin, diễn biến trên TTCK để xác định đúng giá trị các
chứng khoán đó.
CTCK có đặc thù riêng. CTCK trở thành nơi tập hợp những nguồn thông
tin đáng tin cậy nhất của thị trường, họ có trình độ và kỹ thuật sàng lọc thông
tin từ đó làm cơ sở cho tư vấn. Từ đó, thông qua các nghiệp vụ môi giới, tư
vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư các CTCK cung cấp một cơ chế giá cả
giúp nhà đầu tư đưa ra được nhận định đúng giá trị khoản đầu tư của mình
cũng như giảm chi phí và thời gian giao dịch.
Bên cạnh đó, với trình độ của một chuyên gia tài chính các CTCK giúp
các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách có hiệu quả.
Sự uy tín của các CTCK làm khơi dậy niềm tin và quan trọng hơn nữa là
tạo ra nhu cầu đầu tư vào TTCK của công chúng.
• Vai trò đối với TTCK
- Thứ nhất, CTCK góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường.
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh chứng khoán
cho các tổ chức phát hành, CTCK thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ
chức phát hành mức giá chào bán hợp lý đối với các chứng khoán. Thông
thường mức giá phát hành do các CTCK xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu
và thõa thuận với các nhà đầu tư tiềm năng lớn trong đợt phát hành đó và tư
vấn cho tổ chức phát hành.
Trên thị trường thứ cấp, dù là thị trường đấu giá hay thị trường đấu lệnh,
CTCK luôn có vai trò giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về các khoản
đầu tư của họ, bởi vì giá đó được xác định theo quy luật cung cầu thị trường.
Như vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia
định giá của các CTCK.
Ngoài ra, ở một số nước theo quy định của pháp luật các CTCK phải
dành một tỉ lệ nhất định trong giao dịch của mình để mua vào khi giá chứng
khoán giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng. Hoạt động này đã có tác
dụng lớn trong việc điều tiết giá chứng khoán, bình ổn thị trường.
- Thứ hai, tạo tính thanh khoản cho các tài sản tài chính.
Các CTCK thực hiện cơ chế giao dịch chứng khoán trên cả thị trường sơ
cấp và thị trường thứ cấp. Từ đó, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng
khoán thành tiền mặt và ngược lại một cách thuận tiện, nhanh chóng, dễ dàng,
ít tốn kém và ít thiệt hại nhất.
• Vai trò đối với cơ quan quản lý thị trường
CTCK là thành viên hoạt động thường xuyên, liên tục trên TTCK theo
nguyên tắc công khai và trung gian. Với ưu thế nắm rõ tình hình các tổ chức
phát hành cũng như các nhà đầu tư thông qua vai trò bảo lãnh phát hành,
trung gian mua bán, CTCK là nơi cung cấp tình hình về các giao dịch, về các
loại chứng khoán, về tổ chức phát hành, về nhà đầu tư, về các biến động của
thị trường một cách cập nhật, chính xác và tổng hợp nhất. Dựa vào nguồn
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
thông tin này, cơ quan quản lý thị trường có thể theo dõi giám sát toàn cảnh
hoạt động trên thị trường chứng khoán để từ đó đưa ra các quyết định, chính
sách đúng đắn, phù hợp, kịp thời đảm bảo cho thị trường diễn ra một cách trật
tự, khuôn khổ và có hiệu quả.
1.1.2. Các hoạt động chính của CTCK
CTCK có thể thực hiện một hoặc một số hay tất cả các nghiệp vụ trên
TTCK hay không không chỉ phụ thuộc vào quy mô, năng lực của công ty mà
còn tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện hành nghề.
Hiện nay, trên TTCK CTCK đảm nhận các hoạt động cơ bản sau:
1.1.2.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động cơ bản đầu tiên của CTCK. Trong
loại hình kinh doanh này, CTCK đại diện cho khách hàng thực hiện các lệnh
mua, lệnh bán chứng khoán do khách hàng yêu cầu để hưởng phí giao dịch. Ở
đây, quyết định mua bán là do khách hàng đưa ra do đó khách hàng phải chịu
trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình, việc hạch toán các giao dịch
phải được thực hiện trên các tài khoản thuộc sở hữu của khách hàng và CTCK
chỉ được thu phí môi giới theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Ở Việt Nam, theo Luật chứng khoán năm 2006 thì “Môi giới chứng
khoán là việc CTCK làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho
khách hàng”. Và theo nghị định 14/2007/NĐ-CP thì vốn pháp định cho
nghiệp vụ môi giới chứng khoán của CTCK là 25 tỷ đồng Việt Nam.
Nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng cũng như đảm bảo tính ổn định
hiệu quả cho TTCK, pháp luật có những yêu cầu rất cao đối với nhà môi giới.
Người môi giới, trước hết phải được tín nhiệm, phải có lòng tin của khách
hàng. Tiếp đó họ phải có năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp, có khả năng
phân tích tài chính doanh nghiệp. Và các nhà môi giới hoạt động trên thị
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Trung Thành
trường tập trung hay thị trường OTC đều phải đăng ký và được cấp giấy phép
hành nghề.
1.1.2.2. Hoạt động tự doanh
Theo Luật Chứng khoán năm 2006: “ Tự doanh chứng khoán là việc
CTCK mua và bán chứng khoán cho chính mình”.
Song song với hoạt động môi giới, tự doanh chứng khoán cũng là một
hoạt động chủ yếu của CTCK. Trên TTCK, CTCK là một tổ chức đầu tư
chuyên nghiệp không có lý do gì mà họ không tự đầu tư cho chính mình. Với
hoạt động này họ trở thành nhà đầu tư lớn – nhà đầu tư có tổ chức, góp phần
làm sôi động thị trường.
Tự doanh là kinh doanh cho chính mình và vì mục tiêu lợi nhuận nên
mức độ rủi ro lớn do đó muốn thực hiện hoạt động tự doanh CTCK phải có
một số vốn đủ lớn, thường lớn hơn nhiều so với hoạt động môi giới. Mặt khác
để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường các CTCK còn phải
tuân thủ những yêu cầu nhất định của pháp luật, trong đó 2 yêu cầu cơ bản là
vốn và con người. Chỉ khi CTCK đáp ứng được mức vốn pháp định thì họ
mới được phép tiến hành hoạt động này. Theo nghị định 14/2007/NĐ-CP quy
định mức vốn quy định cho hoạt động tự doanh là 100 tỷ VNĐ. Bên cạnh đó,
nhân viên thực hiện nghiệp vụ tự doanh phải có một trình độ chuyên môn
nhất định, có khả năng tự quyết cao và đặc biệt là tính nhạy cảm trong công
việc.
Ở một số TTCK, hoạt động tự doanh của CTCK còn được thông qua
hoạt động tạo lập thị trường. Khi đó, CTCK đóng vai trò là nhà tạo lập thị
trường, nắm giữ một số luợng nhất định của một số loại chứng khoán và thực
hiện mua bán với các khách hàng nhằm hưởng chênh lệch giá.
SV: Đỗ Thị Mai Lớp: TTCK46
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét