Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam

Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trờng là ở trong giai
đoạn chuyển đổi mà kể cả các nền kinh tế có trình độ phát triển cao nh nền
kinh tế Mĩ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu cũng ở trong quá trình chuyển đổi
từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin và kinh tế tri thức. Sự
chuyển đổi này trở thành một hiện tợng phổ biến hiện nay.
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế của các quốc gia đang đặt ra hàng loạt
các vấn đề cần phải xử lý, đặc biệt là chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển sang
cơ cấu kinh tế có các ngành sử dụng công nghệ cao, các ngành phát huy đợc
lợi thế so sánh và các ngành có khả năng cạnh tranh lâu dài trên thị trờng, vấn
đề đào tạo nguồn nhân lực chất lợng cao và những cải cách về hệ thống quản lý
kinh tế phù hợp với xu hớng toàn cầu hóa cũng đợc đề cao.
Nói tóm lại, toàn cầu hóa diễn ra có tính gia tốc. Đây là một quá trình
khách quan và là một xu hớng vận động chủ yếu của nền kinh tế thế giới hiện
nay. Việt Nam đang chủ động, tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa để
thực hiện mục tiêu hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nớc. Để đạt đợc mục tiêu
này, Việt Nam cũng đang tiến hành xây dựng lộ trình phù hợp, hội nhập sâu
hơn vào nền kinh tế khu vực và tiếp đến là kinh tế toàn cầu.
II/ Sự cần thiết của các biện pháp bảo hộ sản xuất
trong nớc:
1.Sự cần thiết của các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nớc:
1.1. Tính thiết yếu chung của bảo hộ đối với các quốc gia trên thế giới:
Bảo hộ là công cụ phổ biến đợc chính phủ các nớc sử dụng để nâng đỡ các
doanh nghiệp gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp có ảnh hởng đến nền
kinh tế quốc dân hoặc các doanh nghiệp tập trung nguồn nhân lực và tài chính
lớn. Minh hoạ thực tế rõ ràng nhất có thể nhận thấy ở các nớc đang phát triển
nh các nớc châu Mĩ latinh, Asean nơi tồn tại số lợng lớn các doanh nghiệp nhà
nớc. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nớc ở các quốc gia này đều là các doanh
6
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
nghiệp gặp khó khăn trong vấn đề cạnh tranh trên thị trờng nội địa cũng nh
quốc tế mà nguyên nhân sâu xa có thể là thiếu vốn, hạn chế trong vấn đề đào
tạo nhân lực hoặc thậm chí là yếu kém trong khâu quản lí Mặc dù vậy việc
giải thể các doanh nghiệp này là vấn đề nan giải bởi hầu hết các doanh nghiệp
này thu hút một lực lợng lao động lớn hoặc đợc đầu t những nguồn tài chính
không nhỏ. Hậu quả của việc giải thể có thể là những cú sốc lớn cả về kinh tế
và chính trị. Hơn nữa nguyên nhân chính phủ không giải thể các doanh nghiệp
này còn có thể là do họ vẫn còn đặt niềm tin vào khả năng biến chuyển tình
thế của đội ngũ lãnh đạo hoặc đây là những doanh nghiệp hoạt động trong
những lĩnh vực đợc u tiên phát triển theo chiến lợc dài hạn.
Một lí do không thể không đề cập đến khi duy trì các biện pháp bảo hộ là
mong muốn cải thiện các ngành sản xuất nội địa. Bất cứ một quốc gia nào trên
thế giới đều có những chiến lợc phát triển kinh tế nhất định và trong đó luôn
xác định những lĩnh vực u tiên đặc biệt. Nhng để các doanh nghiệp hoạt động
trong những lĩnh vực này đạt đợc hiệu quả tối u và nâng cao khả năng cạnh
tranh trong nớc và quốc tế nhà nớc luôn phải có những u đãi đặc biệt. Ví dụ
điển hình là Mĩ một nớc đợc coi là có nền kinh tế phát triển nhất thế giới
trong thời gian qua vẫn duy trì khá nhiều phơng thức bảo hộ đối với lĩnh vực
nông nghiệp, trong đó có cả những phơng thức đi ngợc lại lợi ích thơng mại
quốc tế và bị nhiều phản kháng của các quốc gia khác trên thế giới.
Một lí do riêng đối với các nớc đang và chậm phát triển là họ phải thờng
xuyên xem xét vấn đề duy trì một cán cân thanh toán có lợi và cải thiện
nguồn ngân sách. Có thể dễ dàng nhận thấy các quốc gia đang và chậm phát
triển hầu hết đều có một cán cân thanh toán bị thâm hụt và một nguồn ngân
sách hạn hẹp vốn đợc tài trợ chủ yếu thông qua thu thuế và vay nợ nớc ngoài.
Để tránh tình trạng đó các quốc gia có thể áp dụng nhiều hình thức bảo hộ
khác nhau nhằm phát triển những ngành hàng thay thế nhập khẩu hoặc hớng
7
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết hay xa xỉ từ đó
hạn chế chi tiêu ngoại tệ và thu về nhiều hơn thông qua xuất khẩu.
Xuất phát từ nguyên nhân thứ nhất bảo hộ còn giúp các quốc gia trên thế
giới duy trì việc làm cho những tổ chức hoặc nhóm ngời nhất định và giảm bớt
những sức ép về chính trị từ các tổ chức đoàn thể. Nguyên nhân này là một
trong những nguyên nhân chủ yếu để chính phủ các nớc có nền kinh tế đang
chuyển đổi duy trì các biện pháp bảo hộ đối với một số ngành nhất định. Điều
này cũng tơng tự đối với vấn đề bảo hộ một số ngành ở các quốc gia có nền
kinh tế khá phát triển nh Mĩ và các nớc thuộc liên minh châu Âu. Để bảo hộ
ngành công nghiệp dệt may vốn là ngành kinh tế thu hút khá nhiều lao động
EU đã đa ra những thoả thuận về hạn chế xuất khẩu tự nguyện với các nớc
khác đặc biệt là các nớc có nguồn nguyên liệu phong phú và lực lợng nhân
công rẻ mạt.
Đối với các quốc gia có tiềm lực cả về kinh tế và chính trị các biện pháp
bảo hộ còn có thể đợc duy trì nh một công cụ chính trị để đơn phơng gây sức
ép với các quốc gia khác. Mặc dù đây là mục đích hết sức cá biệt trong một
thế giới ngày càng phát triển theo hớng đa cực song trên thế giới hiện tợng này
đã và đang tiếp tục xảy ra. Mĩ là quốc gia lạm dụng công cụ bảo hộ nhiều nhất
vào mục đích này. Trong luật pháp Hoa Kì có những điều khoản đặc biệt cho
phép quốc hội đa ra những biện pháp thơng mại đơn phơng đối với bất cứ quốc
gia nào đợc coi là có thể đe doạ đến vấn đề an ninh của nớc Mĩ.
1.2. Sự cần thiết phải bảo hộ đối với Việt Nam:
Những lí do chủ yếu đối với vấn đề bảo hộ nền kinh tế Việt Nam xuất phát
từ hai yếu tố chủ quan và khách quan trong đó yếu tố chủ quan là thực trạng
nền kinh tế Việt Nam và yếu tố khách quan là bối cảnh chung của nền kinh tế
thế giới trong giai đoạn hiện nay.
Theo đánh giá chung thì nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế lạc hậu,
đang chuyển hoá từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trờng, các yếu
8
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
tố của kinh tế thị trờng cha đợc tạo lập một cách đồng bộ và còn nhiều khiếm
khuyết. Hệ thống các qui phạm pháp luật công cụ quan trọng để quản lí nhà n-
ớc của Việt Nam hiện nay cũng bị đánh giá là thiếu nhất quán và quá chồng
chéo, cha tạo ra đợc môi trờng pháp lí bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế. Các chính sách tài chính tiền tệ, xuất nhập khẩu cũng
trong tình trạng tơng tự. Vì vậy, trong quá trình xây dựng một môi trờng kinh
tế giàu tính cạnh tranh và lành mạnh hơn nhà nớc cũng cần có sự nâng đỡ hợp
lí đối với các một số lĩnh vực nhất định để tạo thế đòn bẩy cho toàn bộ nền
kinh tế.
Bên cạnh đó không thể phủ nhận một thực trạng là các doanh nghiệp Việt
Nam còn yếu kém về năng lực quản lí, nguồn nhân lực, khả năng thích nghi và
mang nặng t tởng dựa dẫm của một thời kì dài bao cấp. Việc ngay lập tức thúc
ép các doanh nghiệp này tự tạo lập một thế đứng vững chắc trên thị trờng trong
nớc đã là một nhiệm vụ quá khó khăn chứ cha đề cập đến thị trờng khu vực và
quốc tế. Hơn nữa ngay cả khi các doanh nghiệp Việt Nam đã có một tiềm lực
nhất định cũng không thể cho rằng họ không còn cần tới sự bảo trợ của nhà n-
ớc nữa. Những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao
ngoài mong muốn nhận đợc sự hỗ trợ về vốn thì sự hỗ trợ trong vấn đề nghiên
cứu và ứng dụng các thành tựu mới cũng hết sức quan trọng đôí với họ.
Cũng nh hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam đang xây dựng
cho mình một chiến lợc phát triển kinh tế trong đó u tiên phát triển một số
ngành. Các ngành này là những ngành công nghiệp có tiềm năng song còn gặp
nhiều khó khăn trong cạnh tranh cần đợc sự hỗ trợ tích cực của nhà nớc và cả
những ngành nhất thiết phải u tiên phát triển do các lí do khác nh chính trị và
xã hội. Đây là lí do cơ bản nhất để Việt Nam duy trì các hình thức bảo hộ nh-
ng với đặc thù mang nhiều màu sắc chính trị hơn là kinh tế các hình thức bảo
hộ của Việt Nam trong thời gian qua cha hẳn đã phát huy đợc tính chất tích
cực đối với nền kinh tế.
9
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
Đứng trớc xu thế khách quan của tự do hoá thơng mại và quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cũng cần duy trì các phơng thức bảo hộ vì
những nguyên nhân nhất định. Thứ nhất trong quá trình tự do hoá thơng mại
nền kinh tế Việt Nam không thể tránh đợc những tác động xấu nh sự xâm
nhập của hàng hoá, sự lũng đoạn của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài Nếu không có chiến lợc bảo hộ sản xuất phù hợp nền kinh tế của
chúng ta sẽ phát triển bất cân xứng và phụ thuộc nặng nề vào các yếu tố bên
ngoài. Thứ hai để hoà nhập vào một nền kinh tế chung vốn đã phát triển hơn
chúng ta rất nhiều Việt Nam cần cải thiện khả năng cạnh tranh trên phơng
diện quốc gia cũng nh trên phơng diện doanh nghiệp/ngành. Các biện pháp hỗ
trợ mang tính cấp thiết sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam tạo đợc những
lợi thế nhất định trong quá trình bắt kịp nhịp độ phát triển chung và tạo điều
kiện cho chúng ta tranh thủ hoàn thiện các yếu tố còn lại . Cuối cùng cũng
không thể không đề cập đến một lí do ít đợc đề cập đến đó là để tạo lập một
thế vững chắc trên trờng quốc tế bảo hộ cũng là một công cụ để chúng ta có
thể mang ra mặc cả để đổi lấy những u đãi chính trị nhất định.
2.Các phơng thức bảo hộ sản xuất trong nớc:
2.1.Thuế và thuế quan:
Ngoài mục đích chính là thu ngân sách thuế còn là một biện pháp hớng
dẫn tiêu dùng và trong một chừng mực nào đó là một biện pháp hạn chế nhập
khẩu hữu hiệu.Việc đánh thuế nội địa hay thuế quan cao vào một mặt hàng
nhập khẩu sẽ có tác động không nhỏ tới việc thu hẹp cầu trong nớc từ đó dẫn
đến hạn chế nhập khẩu những mặt hàng này. Bên cạnh thuế và thuế quan thì
các biện pháp phi thuế cũng là một trong những công cụ hữu hiệu để bảo hộ
sản xuất trong nớc. Đây cũng chính là nội dung mà đề tài muốn đề cập tới.
2.2. Các biện pháp phi thuế:(NTM- non-tarrif measure)
Các biện pháp phi thuế đợc định nghĩa nh tất cả các biện pháp khác ngoài
các biện pháp thuế quan đợc qui định về mặt pháp lí hay đơn thuần tồn tại trên
10
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
thực tế có ảnh hởng đến mức độ hoặc phơng hớng nhập khẩu. Các biện pháp
phi thuế quan có thể mang một hay nhiều thuộc tính khác nhau nh áp dụng ở
biên giới hay nội địa, đợc duy trì một cách chủ động hay bị động, nhằm mục
đích bảo hộ hay không bảo hộ, phù hợp hay không phù hợp với thông lệ quốc
tế
2.2.1.Ưu điểm:
a.Phong phú về hình thức : nhiều biện pháp phi thuế khác nhau có thể đáp
ứng cùng một mục tiêu, áp dụng cho cùng một mặt hàng
Các NTM trong thực tế rất phong phú về hình thức nên tác động, khả năng
và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng cũng rất đa dạng. Do đó, nếu sử dụng
NTM để phục vụ một mục tiêu đề ra thì có thể có nhiều sự lựa chọn, kết hợp
hơn mà không bị gò bó chật hẹp trong khuôn khổ một công cụ duy nhất nh
thuế quan. Ví dụ: để nhằm hạn chế nhập khẩu một mặt hàng bất kì, có thể
đồng thời áp dụng các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép nhập
khẩu không tự động, đầu mối nhập khẩu, phụ thu nhập khẩu.
b.Đáp ứng nhiều mục tiêu: một NTM có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục
tiêu với hiệu quả cao
Mỗi quốc gia thờng theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, th-
ơng mại của mình. Các mục tiêu đó có thể là: (i) bảo hộ sản xuất trong nớc,
khuyến khích phát triển một số ngành nghề; (ii) bảo vệ an toàn sức khỏe con
ngời, động thực vật, môi trờng; (iii) hạn chế tiêu dùng; (iv) đảm bảo cân bằng
cán cân thanh toán; (v) bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, v.v
Các NTM có thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau khi
việc sử dụng công cụ thuế quan không khả thi hoặc không hữu hiệu bằng.
Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa đảm
bảo an toàn sức khỏe con ngời, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản xuất
nông nghiệp trong nớc một cách hợp pháp. Hay cấp phép không tự động đối
với dợc phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dợc nội địa, dành đặc quyền
11
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
cho một số đầu mối nhập khẩu nhất định, quản lý chuyên ngành một mặt hàng
quan trọng đối với sức khỏe con ngời, còn có tác dụng phân biệt đối xử với
một số nớc cung cấp nhất định.
c.Nhiều NTM cha bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ
Do NTM thờng mang tính mập mờ, mức độ ảnh hởng không rõ ràng nh
những thay đổi định lợng của thuế quan, nên tác động của chúng có thể lớn
nhng lại là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hay
cách khác. Hiện nay các hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh việc sử dụng
một số NTM nhất định. Trong đó, tất cả các NTM hạn chế định lợng đều
không đợc phép áp dụng, trừ trờng hợp ngoại lệ.
Một số NTM khác tuy có thể nhằm mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ
sản xuất trong nớc nhng vẫn đợc WTO cho phép áp dụng với điều kiện tuân
thủ những quy định cụ thể, rõ ràng, khách quan. Chẳng hạn nh tiêu chuẩn kỹ
thuật, biện pháp kiểm dịch động thực vật, tự vệ, thuế chống bán phá giá, các
biện pháp chống trợ cấp, thuế đối kháng, hỗ trợ nông nghiệp dạng hộp xanh.
Ngoài ra, vẫn có thể tiếp tục áp dụng mà cha bị yêu cầu cắt giảm hay loại
bỏ những NTM cha xác định đợc sự phù hợp hay không phù hợp với các quy
định của WTO. Những NTM này có thể do WTO cha có quy định điều chỉnh
hoặc có quy định nhng rất chung chung và trên thực tế rất khó có thể xác định
đợc tính phù hợp hay không phù hợp với quy định đó, hoặc chúng vẫn là một
thực tế đợc thừa nhận chung. Chẳng hạn nh yêu cầu đặt cọc, trả thuế nhập
khẩu trớc, v.v
2.2.2.Nh ợc điểm:
a.Không rõ ràng và khó dự đoán
Các NTM trên thực tế thờng đợc vận dụng dựa trên cơ sở dự đoán chủ
quan, thậm chí tuỳ tiện, của nhà chức trách về sản xuất và nhu cầu tiêu thụ
trong nớc. Chẳng hạn để xác định hạn ngạch nhập khẩu phân bón trong năm
tới, Chính phủ phải dự kiến đợc công suất sản xuất trong nớc có khả năng đáp
12
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
ứng đợc bao nhiêu phần trăm tổng nhu cầu về phân bón của toàn ngành nông
nghiệp.
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày nay rất phức tạp và thờng xuyên biến
động, việc đa ra một dự đoán tơng đối chính xác là rất khó khăn. Nếu dự đoán
không chính xác sẽ có ảnh hởng xấu đến sản xuất trong nớc. Ví dụ nh gây ra
thiếu hụt trầm trọng nguồn cung cấp phân bón khi sản xuất trong nớc vào thời
vụ, đẩy giá tăng vọt (sốt nóng) hoặc trái lại, dẫn đến tình trạng cung vợt cầu
quá lớn trên thị trờng làm giá sụt giảm (sốt lạnh). Điều này đồng nghĩa với việc
các quyết định sản xuất và kinh doanh sẽ chịu rủi ro cao hơn.
Sử dụng NTM cũng thờng làm nhiễu tín hiệu chỉ dẫn quyết định của ngời
sản xuất và ngời tiêu dùng trong nớc, tín hiệu chỉ dẫn việc phân bổ nguồn lực
trong nội bộ nền kinh tế (chính là giá thị trờng), phản ánh không trung thực lợi
thế cạnh tranh thực sự. Do đó, khả năng xây dựng kế hoạch đầu t sản xuất kinh
doanh hiệu quả trong trung và dài hạn của ngời sản xuất bị hạn chế.
Tác động của các NTM thờng khó có thể lợng hóa đợc rõ ràng nh tác động
của thuế quan. Nếu mức bảo hộ thông qua thuế quan đối với một sản phẩm có
thể dễ dàng đợc xác định bằng chính thuế suất đánh lên sản phẩm đó thì mức
độ bảo hộ thông qua NTM là tổng mức bảo hộ của các NTM riêng rẽ áp dụng
cho cùng một sản phẩm. Bản thân mức độ bảo hộ của mỗi NTM cũng chỉ có
thể đợc ớc lợng một cách tơng đối. Cũng vì mức độ bảo hộ của các NTM
không dễ xác định nên rất khó xây dựng một lộ trình tự do hóa thơng mại rõ
ràng nh với bảo hộ chỉ bằng thuế quan.
b.Khó khăn, tốn kém trong quản lý
Vì khó dự đoán nên các NTM thờng đòi hỏi chi phí quản lý cao và tiêu tốn
nhân lực của nhà nớc để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát bằng NTMs.
Một số NTM thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ quan với
những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây khó
khăn cho bản thân các nhà hoạch định chính sách, quản lý, và các chủ thể
13
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
tham gia hoạt động kinh tế trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp cận thông tin
cũng nh đánh giá tác động của các NTM này.
Các doanh nghiệp sản xuất cha chú trọng đến tiếp cận thông tin và cha có
ý thức xây dựng, đề xuất các NTM để bảo hộ sản xuất, còn trông chờ vào nhà
nớc tự quy định. Do đó, thực tế là các doanh nghiệp thờng phải tốn kém chi
phí vận động hành lang để cơ quan chức năng ra quyết định áp dụng NTM
nhất định có lợi cho mình.
Ngoài ra, có những NTM bị động là những NTM tồn tại trên thực tế ngoài
ý muốn của các nhà hoạch định chính sách nh bộ máy quản lý thơng mại quan
liêu, năng lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản pháp lý không đợc
công bố công khai,
c.Không tăng thu ngân sách, gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp:
Việc sử dụng các NTM phục vụ mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản
xuất trong nớc hầu nh không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho nhà
nớc mà thờng chỉ làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc ngành nhất định đợc
bảo hộ hoặc đợc hởng u đãi, đặc quyền, nh đợc phân bổ hạn ngạch, đợc chỉ
định làm đầu mối nhập khẩu. Điều này còn dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các
doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế.
2.3. Sự kết hợp giữa hai biện pháp để bảo hộ sản xuất trong nớc.
Các biện pháp thuế quan và NTM là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan
trọng đối với mọi quốc gia. Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh, yếu đặc thù
nên chúng thờng đợc sử dụng bổ sung lẫn nhau nhằm bảo hộ sản xuất trong n-
ớc. Mặc dù về lý thuyết, WTO và các định chế thơng mại khu vực thờng chỉ
thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất nhng thực tế đã
chứng minh rằng các nớc không ngừng sử dụng các NTM mới, vừa đáp ứng
mục đích bảo hộ, vừa không trái với thông lệ quốc tế.
Mức độ hiệu quả của bảo hộ có tăng lên nhiều hay không còn phụ thuộc
vào tính linh hoạt có chọn lọc, có định hớng của chính phủ các nớc trong việc
14
Xây dựng một số biện pháp phi thuế bảo hộ sản xuất của Việt Nam
áp dụng các NTM bổ trợ cho biện pháp thuế quan. Nếu biết kết hợp hài hòa và
tinh tế hai công cụ này, sản xuất trong nớc sẽ đợc bảo hộ, hỗ trợ có thời hạn để
nâng cao sức cạnh tranh nhằm từng bớc thích nghi với các định chế và nguyên
tắc chung của môi trờng thơng mại quốc tế.
3. Các NTMs đợc sử dụng để bảo hộ:
3.1. Những căn cứ phân loại
3.1.1. Bảo hộ sản xuất trong nớc:
Đây là thuộc tính quan trọng nhất của một NTM mà các nhà hoạch định
chính sách cần cân nhắc khi đa ra quyết định có áp dụng chúng hay không.
Điều này phụ thuộc chủ yếu vào vấn đề phân tích và đánh giá thực trạng kinh
tế trong nớc từ đó lựa chọn ngành bảo hộ, thời gian và mức độ bảo hộ.
3.1.2.Phù hợp với qui định của các tổ chức kinh tế quốc tế:
Khi xây dựng chính sách thơng mại nhằm hội nhập vào các tổ chức thơng
mại quốc tế cần quan tâm đến những qui định của những tổ chức này đặc biệt
là những biện pháp đã có cam kết cắt giảm. Hiện tại Việt Nam đã trở thành
thành viên chính thức của ASEAN và APEC do đó việc cắt giảm những biện
pháp phi thuế cho phù hợp với những tổ chức này là vấn đề bắt buộc. Ngoài ra
muốn trở thành thành viên chính thức của WTO-một tổ chức thơng mại có quy
mô toàn cầu trong một tơng lai gần, Việt Nam cần phải cải cách mạnh mẽ hơn
nữa những biện pháp thuế quan cũng nh phi thuế Các nguyên tắc và qui định
của WTO thông thờng cũng là những chuẩn mực cho mối quan hệ giữa các
quốc gia với các thể chế tài chính tiền tệ hay cho các tổ chức thơng mại khác.
Do đó có thể khẳng định chắc chắn rằng việc thực hiện triệt để bớc đầu các
cam kết mở đờng cho Việt Nam tham gia WTO cũng đồng thời giúp Việt
Nam phần nào đáp ứng đợc những cam kết trong ASEAN và APEC.
3.2. Phân loại các NTM:
Trên cơ sở các thuộc tính nói trên của các NTM có thể phân loại các NTM
này thành bốn nhóm lớn với các thuộc tính sau:
15

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét