Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

42 Xây dựng hệ thống kiểm toán nội bộ tại Tổng Công ty Muối Việt Nam


STT
Các mục tiêu chi tiết của hệ thống kiểm soát nội bộ
1 Các nghiệp vụ kinh tế phải có căn cứ hợp lý (tính có căn cứ hợp lý).
2 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phê chuẩn đúng đắn (mục tiêu về sự phê chuẩn).
3 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi sổ một cách đầy đủ (mục tiêu về tính đầy đủ).
4 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc đánh giá đúng đắn (mục tiêu về sự đánh giá).
5 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phân loại đúng đắn (mục tiêu về sự phân loại).
6 Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phản ánh đúng hạn (mục tiêu về tính đúng kỳ).
7
Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi đúng đắn vào sổ phụ và đợc tổng hợp chính xác
(mục tiêu về tính chính xác cơ học).
Bảy mục tiêu trên đợc áp dụng cụ thể cho từng nghiệp vụ trọng yếu trong
cuộc kiểm toán.
Cùng với các mục tiêu trên, hệ thống kiểm soát nội bộ phải đảm bảo thực
hiện các nguyên tắc sau:
STT Các nguyên tắc trong kiểm tra, kiểm soát nội bộ
1 Nguyên tắc phân công phân nhiệm
2 Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
3 Nguyên tắc uỷ quyền phê chuẩn
Tóm lại, kiểm tra - kiểm soát là những hệ thống có chức năng xác minh,
đánh giá, nhận xét về đối tợng kiểm tra - kiểm soát. Hoạt động kiểm tra kiểm
soát nảy sinh và phát triển từ chính nhu cầu của quản lý. Các yếu tố của hệ
thống kiểm tra - kiểm soát bao gồm tất cả các yếu tố đối chiếu, xem xét, xác
minh đối tợng của quản lý. Tổ chức kiểm tra - kiểm soát thể hiện cả tính khoa
học và tính nghiệp vụ kỹ thuật về việc thực hiện các chiến lợc và bớc đi cụ thể
trong hoạch định chính sách và tổ chức bộ máy kiểm tra - kiểm soát ở cả tầm vĩ
mô và vi mô của nền kinh tế.
1.1.2 Vị trí của kiểm toán nội bộ trong kiểm tra, kiểm soát nội bộ.
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong một doanh nghiệp thờng đợc xem gồm 3
yếu tố cấu thành nên, đó là: Môi trờng kiểm soát; Hệ thống kế toán; và các thủ
tục kiểm soát.
Kiểm toán nội bộ là một nhân tố cơ bản trong môi trờng kiểm soát. Kiểm
toán nội bộ thực hiện việc kiểm tra, giám sát và đánh giá thờng xuyên về hoạt
động của đơn vị bao gồm cả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua việc
kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ. Từ đó, bộ phận này sẽ giúp cho đơn vị
có những thông tin kịp thời, xác thực về hoạt động của đơn vị và chất lợng của các
thủ tục kiểm soát nhằm điều chỉnh, bổ sung các thủ tục kiểm soát thích hợp và có
hiệu lực hơn.
Bên cạnh vai trò của mình trong môi trờng kiểm soát của đơn vị, kiểm toán
nội bộ còn có thể góp phần làm giảm chi phí kiểm toán thuê ngoài bằng cách trực
tiếp cung cấp sự giúp đỡ cho các kiểm toán viên độc lập. Nếu kiểm toán viên bên
ngoài có đủ bằng chứng chứng minh cho tính khách quan, chính trực và năng lực
của kiểm toán viên nội bộ thì kiểm toán viên bên ngoài có thể dựa trên công việc
của kiểm toán viên nội bộ theo nhiều cách.
5

Nh vậy, kiểm toán nội bộ là một phần trong hệ thống kiểm soát nội bộ. Hơn
thế nữa, theo chức năng của mình, kiểm toán nội bộ còn góp phần hoàn thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ thông qua việc thực hiện kiểm toán hoạt động và kiểm toán
tuân thủ, làm lành mạnh hóa và hiệu quả hóa hệ thống kiểm soát nội bộ.
1.2 Kiểm toán nội bộ.
1.2.1 Khái quát chung về kiểm toán nội bộ.
a) Sự hình thành và phát triển của kiểm toán nội bộ.
Hoạt động của kiểm toán nói chung đã xuất hiện từ lâu trên thế giới. Sự phát
triển về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia qua thời gian đã làm cho hoạt động
kiểm toán ngày càng phát triển và trở thành nhu cầu không thể thiếu đợc của các
quốc gia.
So với kiểm toán độc lập và kiểm toán nhà nớc thì loại hình kiểm toán nội bộ
ra đời muộn hơn, bắt đầu từ năm 1940 mới xuất hiện khái niệm kiểm toán nội bộ.
Nhng nó có sự phát triển rất mạnh mẽ đặc biệt trong công việc quản trị doanh
nghiệp. Các đơn vị kinh tế cơ sở phát hiện ra rằng hệ thống kiểm toán nội bộ là
phơng tiện quản lý có hiệu quả và là công cụ đắc lực giúp cho các nhà quản lý
giám sát đợc toàn bộ các hoạt động của đơn vị mình. Không những thế, trong các
cơ quan nhà nớc việc hình thành các bộ phận kiểm toán nội bộ để kiểm tra thờng
xuyên các hoạt động trong cơ quan đang tỏ ra có nhiều tác dụng thiết thực.
Với sự lớn mạnh và gia tăng quy mô các doanh nghiệp vài thập niên gần đây,
tầm quan trọng kiểm toán nội bộ cũng lớn mạnh một cách tơng ứng, làm cho nó
trở thành yếu tố chính trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát và kiểm tra nội bộ. ở
một số nớc, cơ quan lập pháp đã đa ra những văn bản pháp luật nhằm tạo ra hành
lang pháp lý để tạo điều kiện cho kiểm toán nội bộ hoạt động và phát triển. Bộ
phận kiểm toán nội bộ đã phát triển cực nhanh ở Mỹ cũng nh ở châu Âu từ những
năm 60. Sự phát triển này đã đợc khuyến khích bởi sự thành lập của tổ chức Kiểm
toán nội bộ (IIA) năm 1941 tại NewYork, tổ chức này đã xác định bản chất, mục
tiêu và phạm vi hoạt động của bộ phận kiểm toán nội bộ. Tổ chức kiểm toán nội
bộ là thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) và INTOSAI, đồng thời nó
chuyên sâu nghiên cứu, đào tạo, bồi dỡng cấp chứng chỉ cho các kiểm toán viên
nội bộ (CIA).
b) Bản chất của kiểm toán nội bộ.
Thuật ngữ kiểm toán thực sự mới xuất hiện và đợc sử dụng ở Việt Nam từ
những năm đầu của thập kỷ 90. Trên thế giới thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu, từ
khi xuất hiện nhu cầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của các thông tin báo
cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế.
Hiện có nhiều quan niệm khác nhau về kiểm toán, song có thể hiểu đợc bản chất
của kiểm toán qua định nghĩa: Kiểm toán là sự xem xét và bày tỏ ý kiến về thực
trạng hoạt động đợc kiểm toán bằng hệ thống phơng pháp kỹ thuật của kiểm
toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ t-
ơng xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực. Hoặc qua khái niệm
khá phổ biến sau: Kiểm toán là quá trình mà theo đó một cá nhân độc lập có
6

thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lợng có liên
quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ
phù hợp giữa thông tin số lợng đó với các chuẩn mực đã đợc xây dựng.
Kiểm toán gồm nhiều loại hình khác nhau. Nếu căn cứ vào chủ thể kiểm toán
(một tiêu thức phân loại phổ biến) thì kiểm toán bao gồm: kiểm toán độc lập, kiểm
toán Nhà nớc và kiểm toán nội bộ. Các loại hình kiểm toán này khác nhau về chức
năng, tính chất, địa vị pháp lý, phạm vi và hoàn toàn không thể thay thế cho nhau
(Phụ lục 1.1). Trong đó kiểm toán nội bộ là loại kiểm toán do các kiểm toán viên
nội bộ của đơn vị tiến hành. Lịch sử phát triển hoạt động kiểm toán ở các nớc có
nền kinh tế thị trờng cho thấy kiểm toán nội bộ là một nghề nghiệp mới mẻ. Tuy
lúc đầu kiểm toán nội bộ mang tính chất không chuyên, không tồn tại ở các doanh
nghiệp hoặc đợc coi nh một phần của kiểm toán độc lập, nhng về sau nó đã trở
thành một nghề có tính chuyên nghiệp.
Một cách cơ bản có thể hiểu kiểm toán nội bộ là một bộ phận đợc lập ra
trong một đơn vị, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát để giúp các nhà quản
lý cấp cao trong đơn vị đó gia tăng đợc quyền lực của mình nhằm quán xuyến đ-
ợc các hoạt động đã và đang diễn ra trong đơn vị, bao gồm: những quy tắc đặt
ra có đợc tuân thủ không? Tài sản có đợc toàn vẹn không? Cán bộ, CNV làm
việc có hiệu quả không? Các quy định hiện hành có phù hợp khi điều kiện thay
đổi? Đánh giá tính chính xác của các báo cáo tài chính
Ta có thể hiểu kiểm toán nội bộ một cách đúng nhất là loại hình kiểm soát có
tổ chức mà chức năng là đo lờng và đánh giá hiệu quả của những việc kiểm tra
kiểm soát khác và nó mang tính nội kiểm. Khi một tổ chức đặt ra kế hoạch ở tất cả
các vị trí và thực hiện kế hoạch đó qua các nghiệp vụ thì phải có những việc gì để
theo dõi nhiệm vụ nhằm bảo đảm đạt đợc các mục tiêu đã định. Những việc làm
tiếp theo đó có thể hiểu là những việc kiểm soát. Chức năng của kiểm toán nội bộ
tự nó cũng là loại kiểm soát khác, nhng công việc kiểm tra nội bộ có đặc biệt quan
trọng là giúp đo lờng và đánh giá những kiểm soát đó. Nh vậy kiểm toán nội bộ
vừa phải hiểu vai trò của mình là một kiểm soát, vừa phải hiểu tính chất và phạm
vi của các loại hình kiểm soát khác. Nh vậy, kiểm toán nội bộ cũng là hoạt động
kiểm toán nhng lại mang màu sắc riêng của mình. Chính bản thân thuật ngữ kiểm
toán nội bộ cũng phần nào phản ánh đợc những nét riêng đó và thể hiện đợc bản
chất của hoạt động này.
ở một góc độ khác, kiểm toán nội bộ là một yếu tố cơ bản trong hệ thống
kiểm soát nội bộ. Thực vậy, kiểm soát nội bộ là một hệ thống các chính sách, thủ
tục đợc thiết lập tại đơn vị nhằm bảo đảm hợp lý cho các nhà quản lý nhằm đạt đ-
ợc 4 mục tiêu sau:
- Bảo đảm tài sản và sổ sách kế toán.
- Bảo đảm tính tin cậy của thông tin.
- Bảo đảm và duy trì kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến
hoạt động của đơn vị.
- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và hiệu năng quản lý.
Hệ thống kiểm soát nội bộ đợc chia thành 3 bộ phận: môi trờng kiểm soát, hệ
thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.
7

Trong đó, môi trờng kiểm soát là toàn bộ những nhân tố có ảnh hởng đến quá
trình thiết kế, vận hành và tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ và bao gồm những
yếu tố cơ bản sau: đặc thù về quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác
kế hoạch, Uỷ ban kiểm toán và kiểm toán nội bộ.
Theo mối quan hệ này, kiểm toán nội bộ đợc xem là một bộ phận chịu trách
nhiệm thực hiện kiểm tra, giám sát và đánh giá thờng xuyên về hoạt động của đơn
vị, qua đó phát hiện những sai phạm làm thất thoát tài sản, đề xuất những biện
pháp cải tiến hoạt động.
Trong quan hệ với hệ thống kiểm tra tài chính Nhà nớc, khái niệm kiểm
toán nội bộ có thể đợc cụ thể nh sau: Kiểm toán nội bộ là một hoạt động nội
kiểm có tính độc lập trong các cơ quan, đơn vị kinh tế thực hiện chức năng là kiểm
tra đánh giá các hoạt động tài chính và phi tài chính nhằm nâng cao hiệu quả các
hoạt động đó và góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý tại các đơn vị kinh tế cơ
sở.
Nói tóm lại, các định nghĩa đã nêu tuy có khác nhau về từ ngữ với ý nghĩa cụ
thể xác định song chung quy đều bao hàm vào khái niệm kiểm toán nội bộ với
các yếu tố cơ bản sau:
1. Chức năng của kiểm toán nội bộ là kiểm tra, giám sát và đánh giá.
2. Nội dung trực tiếp của kiểm toán nội bộ không chỉ giới hạn trong thực trạng
hoạt động tài chính mà cả những lĩnh vực khác của quản lý.
3. Để thực hiện chức năng trên phạm vi của hoạt động tài chính cũng nh phi
tài chính với nhiều mối quan hệ phức tạp đòi hỏi kiểm toán nội bộ phải hình
thành một hệ thống phơng pháp kiểm toán riêng dựa trên hệ thống phơng
pháp kiểm toán nói chung gồm các thủ tục: quan sát, kiểm kê thực tế, xác
minh, thu thập và đánh giá các bằng chứng, tính toán, so sánh, phân tích,
kiểm tra trên máy tính; tổng hợp, lựa chọn thông tin, xác định nguyên nhân
và mức độ liên quan, đánh giá khác
4. Chủ thể kiểm toán nội bộ là những kiểm toán viên nội bộ có trình độ nghiệp
vụ tơng xứng với công việc đảm nhận và độc lập tơng đối với các bộ phận
khác trong đơn vị.
Nh vậy, kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu
quản lý của bản thân doanh nghiệp. kiểm toán nội bộ thực hiện chức năng đánh
giá một cách độc lập và khách quan cơ cấu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp.
Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ bao gồm tất cả các mặt hoạt động của
của doanh nghiệp và ở tất cả các cấp quản lý khác nhau. Kiểm toán nội bộ xem
xét, đánh giá và báo cáo về thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ, đa ra
những phân tích, kiến nghị, t vấn mang tính chất chuyên nghiệp để lãnh đạo
doanh nghiệp có cơ sở tin cậy trong việc quản lý thành công các hoạt động của
doanh nghiệp.
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu và quyền hạn của kiểm toán nội bộ.
* Chức năng của kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán nội bộ hình thành do nhu cầu quản lý nên chức năng của nó cũng
trải qua quá trình phát triển từ thấp tới cao cùng với khoa học quản lý kinh tế, trình
độ và kinh nghiệm quản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Mặc dù theo kinh
8

nghiệm của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, chức năng của kiểm toán
nội bộ hiện đại là đánh giá độc lập hệ thống kiểm soát nội bộ, nhng chức năng
truyền thống của kiểm toán nội bộ là xem xét, đánh giá độ tin cậy, thống nhất của
các thông tin tài chính, đánh giá việc sử dụng tiết kiệm, hữu hiệu vốn và tài sản
của doanh nghiệp. Chính vì thế, việc quy định chức năng, nhiệm vụ cho kiểm toán
nội bộ cần phải xem xét phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng khu
vực kinh tế, từng ngành và từng đơn vị cụ thể.
* Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.
Về cơ bản nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ bao gồm các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu, số liệu kế
toán, việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán tài chính của nhà nớc, kiểm tra việc
tuân thủ các chính sách, các quy định, các kế hoạch và các thủ tục hiện hành.
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hệ thống thiết lập xem có sự bảo
đảm sự tuân thủ với các chính sách, thủ tục, biện pháp và các quy định mà có thể
tác động quan trọng đến mọi hoạt động của tổ chức. Tiếp nối với chức năng này,
trong một số trờng hợp và nếu đợc phép của Uỷ ban quản trị tối cao, các kiểm toán
viên nội bộ đánh giá tính hợp lý và sự u việt của các chính sách, quy định, kế
hoạch trớc khi đi đến việc xác định mức độ tuân thủ. Họ sẽ chỉ ra khoản lợi nhuận
(hay tiết kiệm đợc) từ các hoạt động bởi việc tuân thủ thích đáng các chính sách,
các kế hoạch và thủ tục đợc lập ra và các mất mát nếu không có sự tuân thủ đó.
Bên cạnh đó, các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính pháp lý của các thông
tin kế toán với chuẩn mực là các quy định pháp chế của Nhà nớc.
Thứ hai: Kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông tin trong đó chủ
yếu là kiểm tra và xác định mức độ trung thực, hợp lý của các báo cáo quyết toán
do kế toán và các bộ phận khác trong doanh nghiệp lập ra.
Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông
tin không chỉ của bản thân các thông tin tài chính mà cả các hoạt động và phơng
tiện đợc sử dụng để xác minh, đo đạc, phân loại và báo cáo các thông tin đó. Việc
kiểm tra hệ thống thông tin này là cơ sở để khẳng định các sổ sách và báo cáo tài
chính chứa đựng các thông tin chính xác, kịp thời và hữu ích. Các kiểm toán viên
nội bộ thực hiện kiểm tra các báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong hai trờng
hợp:
- Trờng hợp thứ nhất với mục đích giúp chủ Doanh nghiệp hay nhà quản lý
của Doanh nghiệp kiểm tra lại các thông tin tài chính, kiểm toán viên nội
bộ tiến hành kiểm tra, soát xét việc tính toán, phân loại báo cáo, thẩm
định cụ thể các khoản mục cá biệt (kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số
d tài khoản). Điều này cũng có tác dụng giảm phí kiểm toán của các kiểm
toán viên độc lập khi công việc của kiểm toán viên nội bộ đạt hiệu quả
tốt.
- Trờng hợp thứ hai công việc kiểm tra đợc thực hiện nhằm hoàn thiện việc
thẩm tra các lĩnh vực khác để có thể đa ra kết luận. Việc kiểm tra các báo
cáo tài chính trở thành hoạt động bổ trợ đối với nhiệm vụ kiểm toán
chính.
9

Thứ ba: Kiểm tra việc tuân thủ các mục tiêu đề ra đối với các chơng trình hay
các hoạt động nghiệp vụ. Kiểm tra xác nhận giá trị vốn góp của Doanh nghiệp và
các đối tác tham gia liên doanh với doanh nghiệp. Kiểm tra xác nhận tính trung
thực, hợp lý, đầy đủ của số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị liên
doanh.
Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hoạt động hay chơng trình để xem
xét kết quả thu đợc có phù hợp với mục tiêu đề ra hay không và các hoạt động, ch-
ơng trình đó có đợc thực hiện theo kế hoạch đã định hay không. Bên cạnh đó,
kiểm toán viên nội bộ cần trợ giúp cho những ngời lãnh đạo khi xây dựng các mục
tiêu cho các chơng trình bằng việc xác định xem những giả thiết, dữ liệu quan
trọng có hợp lý không, những thông tin hiện thời có chính xác và có đợc sử dụng
không và hệ thống kiểm tra kiểm soát có đợc thiết lập trong các hoạt động hay ch-
ơng trình không. Đánh giá các vấn đề liên quan đến liên doanh liên kết trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là những mục tiêu quan trọng mà các
kiểm toán viên nội bộ phải thực hiện, bao gồm: đánh giá các báo cáo kế toán liên
doanh liên kết, xác định giá trị liên doanh của Doanh nghiệp và việc bảo toàn
vốn liên doanh, liên kết
Thứ t: Kiểm tra các phơng tiện bảo đảm an toàn cho tài sản. Kiểm tra tính
hiệu quả và pháp lý của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đó có hệ thống kế toán.
Giám sát sự hoạt động và tham gia hoàn thiện chúng.
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các phơng tiện đợc sử dụng để đảm
bảo an toàn cho các tài sản để tránh các mất mát khác nhau nh ăn trộm hoặc hỏa
hoạn
Mặt khác, kiểm toán viên nội bộ cần có những kiến nghị cho nhà quản lý để
phòng ngừa các hành vi bất hợp pháp xâm phạm tài sản của đơn vị, tổ chức.
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ là một trong những nhiệm vụ của kiểm
toán nội bộ, xem xét hệ thống kế toán hoạt động có hiệu quả và bảo đảm độ tin
cậy hay không, đồng thời qua đó đa ra các kiến nghị cũng nh các giải pháp để
hoàn thiện hệ thống đó.
Thứ năm: Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động của các
nguồn lực.
Kiểm toán viên nội bộ phải đánh giá chất lợng thực hiện các nhiệm vụ đợc
giao. Việc thực hiện này liên quan đến các nhóm hay các nhân viên của đơn vị. ở
đây kiểm toán nội bộ không chỉ quan tâm tới việc các nhóm hay các nhân viên
thực hiện công việc của họ có mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho Doanh nghiệp hay
không? Do các công việc (đặc biệt là trong lĩnh vực kỹ thuật) rất đa dạng trong
một tổ chức kinh tế nên để hoàn thành đợc nhiệm vụ trên, bộ phận kiểm toán phải
tuyển chọn đợc những ngời có trình độ nghiệp vụ tơng xứng.
Thứ sáu: Thẩm tra các thủ tục kiểm soát để xác định tính thích hợp và u việt
của nó. Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của quy chế kiểm soát nội bộ, đồng
thời có kiến nghị hoàn thiện các quy chế này.
Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ đồng thời kiểm toán nội bộ phải thực
hiện việc giám sát thực hiện các quy chế kiểm soát nội bộ đã đề ra, qua đó phát
hiện những điểm cha hợp lý để tham gia hoàn thiện chúng.
10

Mục đích của việc thẩm tra tính thích hợp của kiểm toán nội bộ để khẳng
định rằng hệ thống kiểm toán nội bộ vận hành đều đặn và có hiệu quả, đáp ứng
mọi mục tiêu đã định trớc. Việc thẩm tra sẽ phơi bày mọi hành vi gian lận, không
bình thờng và gây lãng phí với bản chất lặp đi lặp lại nhằm ngăn chặn và giảm
thiểu chúng.
Thứ bảy: Các nhiệm vụ đặc biệt khác.
Ngoài các nhiệm vụ chính trên, kiểm toán nội bộ có thể đợc giao bất cứ
nhiệm vụ gì mà có ích cho Ban Giám đốc chẳng hạn nh: điều tra về cá nhân, đại
diện cho Ban giám đốc hoặc giám sát trong các thoả thuận, tham gia vào các ch-
ơng trình đào tạo đơn vị.
Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, kiểm toán nội bộ có trách nhiệm
hớng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ kế toánvà các cán bộ nghiệp vụ khác có liên quan,
đề xuất các quyết định quản lý, xử lý về tài chính kế toán và các nội dung xử lý
khác.
* Quyền hạn của kiểm toán nội bộ.
Do đặc trng của kiểm toán nội bộ là thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu nêu trên,
cho nên kiểm toán nội bộ có những quyền hạn riêng để đảm bảo mục đích hoạt
động. Kiểm toán nội bộ có quyền:
- Kiểm toán nội bộ độc lập với các bộ phận khác trong doanh nghiệp, độc
lập về chuyên môn nghiệp vụ trong phạm vi khuôn khổ pháp luật và các
chuẩn mực, phơng pháp nghiệp vụ chuyên môn.
- Có quyền yêu cầu các bộ phận và các cá nhân có liên quan cung cấp đầy
đủ, kịp thời các tài liệu về kế toán, tài chính và các tài liệu khác có liên
quan tới nội dung đợc kiểm toán.
- Có quyền đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế có liên quan tới đối t-
ợng đợc kiểm toán ở trong và ngoài doanh nghiệp.
- Có quyền kiến nghị với chủ thể đợc kiểm toán có biện pháp sửa chữa sai
phạm và có quyền ghi kiến nghị của mình vào báo cáo kiểm toán.
- Đề xuất với lãnh đạo doanh nghiệp những kiến nghị và biện pháp về quản
lý.
Đó là một số quyền hạn cơ bản của kiểm toán nội bộ, bên cạnh đó tùy
thuộc vào từng doanh nghiệp, từng điều kiện mà kiểm toán nội bộ có thể có thêm
các quyền khác.
11

1.2.3 Nội dung và phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ.
a) Nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ.
Hoạt động của kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp thực hiện một số nội
dung chủ yếu sau:
- Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan,
giám sát sự hoạt động của các hệ thống này cũng nh tham gia hoàn thiện
chúng.
- Kiểm tra các thông tin tác nghiệp, thông tin tài chính, bao gồm việc soát
xét lại các phơng tiện đã sử dụng để xác định, tính toán, phân loại và báo cáo
những thông tin này, kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số d và các bớc công
việc.
- Kiểm tra tính hiệu quả, sự tiết kiệm và hiệu suất của các hoạt động, kể cả
các quy định không có tính chất tài chính của doanh nghiệp.
Nh vậy, lĩnh vực hoạt động của kiểm toán nội bộ bao gồm cả kiểm toán tài
chính và kiểm toán nghiệp vụ trong doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ là kiểm
toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động
của các bộ phận trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó kiểm toán nội bộ cũng tiến
hành các nội dung kiểm toán tuân thủ để xem xét việc chấp hành các chính sách,
quy định của doanh nghiệp.
b) Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ.
Miền xác định hoạt động của kiểm toán nội bộ khá rộng lớn. Thật vậy, để
đạt đợc mục tiêu chung nhất của hoạt động kiểm toán nội bộ, các kiểm toán viên
phải tham gia vào các quá trình trong mọi hoạt động của đơn vị hay tổ chức kinh
tế, kiểm toán viên nội bộ phải đảm nhận tất cả các loại công việc mà không một
loại hình kiểm toán đơn lẻ nào có thể đáp ứng đợc.
Những chức năng của hoạt động kiểm toán sẽ đa kiểm toán viên tới tất cả các
lĩnh vực trong doanh nghiệp. Các lĩnh vực cụ thể để đánh giá và kiểm toán trong
phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ là:
* Đánh giá:
Công việc của kiểm toán nội bộ thờng đợc tiến hành trong nội bộ doanh
nghiệp trong đó đánh giá một trong những phần hành không thể thiếu với bất kỳ
một cuộc kiểm toán nội bộ nào. Phạm vi của công việc đánh giá trong cuộc kiểm
toán nội bộ thờng bao gồm:
- Các kế hoạch và mục tiêu của các nhà quản lý.
- Các quy định và chính sách hiện hành cho việc thực hiện các kế hoạch và
mục tiêu trên.
- Kiểm soát nội bộ và mức độ giám sát.
- Hoạt động nhân sự và các chơng trình đào tạo.
* Theo tính chất của cuộc kiểm toán.
Tùy theo từng loại hình kiểm toán mà phạm vi kiểm toán có những sự khác
nhau cơ bản.
12

Đối với kiểm toán tài chính.
Do việc kiểm toán báo cáo tài chính chủ yếu tập trung vào việc xác định tính
trung thực, chính xác của các báo cáo tài chính cho nên phạm vi của cuộc kiểm
toán tài chính thờng giới hạn trong phạm vi các bảng khai tài chính của đơn vị.
Ngoài ra có thể mở rộng phạm vi hoạt động của cuộc kiểm toán nội bộ về báo cáo
tài chính sang một số lĩnh vực khi cần thiết để phục vụ cho mục đích xác định tính
đúng đắn của các bảng khai tài chính đợc lập.
Đối với kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động.
Do mục tiêu của kiểm toán tuân thủ và cuộc kiểm toán hoạt động là đánh giá
tính hiệu năng và hiệu quả của hệ thống cũng nh của các hoạt động, cho nên phạm
vi của các cuộc kiểm toán này thờng mở rộng trên phạm vi toàn đơn vị và ở tất cả
các lĩnh vực hoạt động, các vấn đề có liên quan. Phạm vi hoạt động của nó rộng
hơn nhiều so với kiểm toán tài chính.
1.2.4 Các loại hình kiểm toán nội bộ.
a) Theo phân loại chung phổ biến hiện nay, hoạt động kiểm toán có 3 loại
hình: Kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tài chính.
* Kiểm toán hoạt động (Operational Audit):
Kiểm toán hoạt động là việc kiểm toán để đánh giá tính hữu hiệu (hiệu lực)
và tính hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ một tổ chức, một
đơn vị.
- Tính hiệu lực là khả năng hoàn thành các mục tiêu hay nhiệm vụ đề ra.
- Tính hiệu quả là việc đạt đợc kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất.
Đối tợng của kiểm toán hoạt động rất đa dạng, từ việc đánh giá mộ phơng án
kinh doanh, một quy trình công nghệ, một loại tài sản thiết bị mới đa vào hoạt
động hay việc luân chuyển chứng từ trong một đơn vị Vì thế, khó có thể đa ra
một khuôn mẫu cho loại hình kiểm toán này. Đồng thời, tính hiệu lực và hiệu quả
của quá trình hoạt động rất khó đợc đánh giá một cách khách quan so với tính tuân
thủ và tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính. Thay vào đó, việc xây dựng
các chuẩn mực để đánh giá các thông tin có thể định lợng trong một cuộc kiểm
toán hoạt động là một việc mang nặng tính chất chủ quan.
Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thờng vợt ra khỏi phạm vi công tác
kế toán - tài chính mà liên quan đến nhiều lĩnh vực. Vì vậy, kiểm toán hoạt động
sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau: kế toán, tài chính, kinh tế, kỹ thuật, khoa học
Sản phẩm của kiểm toán hoạt động là bản báo cáo cho ngời quản lý về kết quả
kiểm toán và những ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động.
* Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit):
Kiểm toán tuân thủ là xác định liệu bên đợc kiểm toán có tuân thủ các thủ
tục hoặc các nguyên tắc quy định đặc thù mà cơ quan có thẩm định quyền hoặc
đơn vị đã đề ra hay không. Kiểm toán tuân thủ đối với một tổ chức hay một cá
nhân có thể bao gồm việc xác định cá nhân kế toán viên có tuân thủ các thủ tục
mà kế toán trởng đã đề ra, cấp có thẩm quyền phê duyệt hay không. Hoặc là một
nhân viên thanh toán có cháp hành các quy định trong quan hệ thanh toán của đơn
vị đã đề ra hay không
13

Khi kiểm toán tuân thủ đối với cá nhân, tổ chức, kiểm toán viên nhằm vào
đánh giá việc chấp hành chính sách đã đề ra, các thoả hiệp và các quy định về
pháp lý. Kết quả kiểm toán tuân thủ sẽ đợc báo cáo cho ngời nào đó có trách
nhiệm cao nhất đơn vị.
* Kiểm toán tài chính (Audit of Financial Statements):
Kiểm toán tài chính là kiểm tra xác nhận xem các bảng khai tài chính đợc lập
có trung thực và hợp lý hay không, có phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực
kế toán thông dụng đã đợc chấp nhận hay không Kết quả kiểm toán báo cáo tài
chính sẽ đợc báo cáo với ngời hoặc tổ chức yêu cầu hoặc đợc dùng công khai số
liệu báo cáo tài chính.
b) Dựa vào thời gian tiến hành cuộc kiểm toán, có các loại hình kiểm toán:
Kiểm toán trớc quá trình hoạt động, kiểm toán trong quá trình hoạt động và kiểm
toán sau quá trình hoạt động.
* Kiểm toán trớc quá trình hoạt động: Chủ yếu là kiểm tra tính khả thi,
tính hiệu quả các dự án, kế hoạch nhằm giúp các cấp ra quyết định quản lý có đợc
những thông tin và sự đảm bảo chắc nhắn về các quyết định của mình.
* Kiểm toán trong quá trình hoạt động: Mục đích nhằm giúp các nhà quản
lý điều chỉnh những sai lệch thiếu sót khi thực hiện kế hoạch hoặc điều chỉnh các
hoạt động để đảm bảo tối u về hiệu quả các hoạt động đang và tiếp tục diễn ra.
* Kiểm toán sau quá trình hoạt động: Nhằm mục đích thẩm định tính hợp
lý trung thực và độ tin cậy của các thông tin trong các báo cáo tình hình hoạt động
của một tổ chức, cá nhân. Trong đó nội dung chủ yếu kiểm toán sau quá trình hoạt
động là kiểm toán các báo cáo tài chính.
c) Dựa vào công việc cụ thể của hoạt động kiểm toán, các loại hình kiểm
toán đợc chia thành:
* Kiểm toán bộ phận:
Kiểm toán bộ phận bao trùm lên tất cả các hoạt động tại một thời điểm đợc
quản lý bởi một giám đốc điều hành. Địa điểm này có thể là một chi nhánh công
sở, một bộ phận trong một đơn vị kinh doanh, một nhà máy nhỏ trong một Tổng
Công ty lớn. Loại kiểm toán này đợc chọn để đánh giá tất cả các hoạt động trong
phạm vi một bộ phận nh việc quản lý tiền mặt, vật t, các hệ thống sản xuất kinh
doanh trong đơn vị, cơ cấu tổ chức, hoạt động nhân sự. Trong khi tiến hành kiểm
toán bộ phận, kiểm toán viên chủ yếu tập trung vào các hoạt động trong phạm vi
bộ phận đó và thờng không vợt quá ranh giới này.
Mục tiêu của kiểm toán bộ phận là xác minh tính hiệu quả các hoạt động của
bộ phận đợc kiểm toán. Vì vậy, kiểm toán viên nội bộ quan tâm tới chất lợng của
kiểm soát nội bộ trong phạm vi đơn vị, việc tuân thủ các chính sách, chế độ và quy
định đặt ra, tính hiệu quả trong các hoạt động, tính chính xác và độ tin cậy của các
dữ liệu trong các sổ sách và báo cáo.
Loại hình kiểm toán này thờng đợc dùng trong bộ phận kho bạc, bộ phận thu
mua, các văn phòng chuyên môn và các chi nhánh hay các đơn vị, bộ phận tơng đ-
ơng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét