Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở việt nam -thực trạng và giải pháp .doc

1.2.2.2 Hình thức tiến hành cổ phần hóa.
Theo quy định thì có 4 hình thức cổ phần hóa DNNN:
Giữ nguyên vốn Nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ
phiếu thu hút thêm vốn để phát triển Doanh nghiệp.
Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nớc hiện có tại Doanh
nghiệp.
Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nớc tại Doanh
nghiệp.
Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ
phiếu thu hút thêm vốn.
Tùy theo điều kiện cụ thể mà ban lãnh đạo Doanh nghiệp sẽ lựa chọn
một hình thức cổ phần hóa phù hợp với doanh nghiệp và ngời lao động.
1.2.2.3 Xác định giá trị doanh nghiệp.
Việc xác định giá trị Doanh nghiệp là một khâu quan trọng và chiếm
nhiều thời gian, công sức trong quá trình cổ phần hóa. Theo Điều 15 nghị
định số 64/2002/NĐ-CP có hai nguyên tắc xác định giá trị Doanh nghiệp :
* Giá trị thực tế của Doanh nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của
Doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa có tính đến khả năng sinh lời của
Doanh nghiệp mà ngời mua, ngời bán cổ phần đều chấp nhận đợc. Giá trị
thực tế phần vốn nhà nớc tại doanh nghiệp là giá trị thực tế của Doanh
nghiệp sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả và số d Quỹ khen thởng, Quỹ
phúc lợi.
* Giá trị thực tế của Doanh nghiệp cổ phần hóa không bao gồm:
Giá trị những tài sản do Doanh nghiệp thuê, mợn, nhận góp vốn liên
doanh, liên kết và các tài sản khác không phảI của Doanh nghiệp.
Giá trị những tài sản không cần dùng, chờ thanh lý.
Các khoản nợ phải thu khó đòi đã đợc trừ vào giá trị Doanh nghiệp.
Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của những công trình đã bị đình
hoãn trớc thời điểm xác định giá trị Doanh nghiệp.
Các khoản đầu t dài hạn vào Doanh nghiệp khác đợc cơ quan có thẩm
quyền quyết định chuyển cho đối tác khác.
Tài sản thuộc công trình phúc lợi đợc đầu t bằng nguồn Quỹ khen th-
ởng, Quỹ phúc lợi của Doanh nghiệp và nhà ở của cán bộ, công nhân
viên trong Doanh nghiệp.
Căn cứ xác định giá trị thực tế của Doanh nghiệp:
Số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần
hóa.
Số lợng và chất lợng tài sản theo kiểm kê phân loại tài sản thực tế của
Doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa.
Tính năng kỹ thuật của tài sản, nhu cầu sử dụng và giá thị trờng tại
thời điểm cổ phần hóa.
Giá trị quyền sử đất, lợi thế kinh doanh của Doanh nghiệp về vị trí địa
lý uy tín của Doanh nghiệp, tính chất độc quyền về sản phẩm, mẫu
mã, thơng hiệu (nếu có).
Khả năng sinh lời của Doanh nghiệp xác định trên cơ sở tỷ suất lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu của Doanh nghiệp.
1.2.2.4 Đối t ợng mua cổ phần và cơ cấu phân chia cổ
phần.
Các đối tợng sau đây đợc quyền mua cổ phần ở các DNNN cổ phần hóa:
Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, và cá nhân ngời Việt Nam ở
trong nớc (gọi tắt là nhà đầu t trong nớc).
Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và cá nhân ngời nớc ngoài, kể
cả ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài, và ngời nớc ngoài định c ở
Việt Nam (gọi tắt là nhà đầu t nớc ngoài).
Điều kiện mua cổ phần: Nhà đầu t nớc ngoài có nhu cầu mua cổ phần ở các
DNNN cổ phần hóa phảI mở tài khoản tại các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam và tuân thủ pháp luật
Việt Nam. Mọi hoạt động mua, bán cổ phần; nhận, sử dụng cổ tức và các
khoản thu khác từ đầu t mua cổ phần đều phải thông qua tài khoản này.
Số lợng cổ phần đợc mua đợc quy định:
- Đối với Doanh nghiệp mà Nhà nớc giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc
biệt: Một pháp nhân đợc mua không quá 10%, một cá nhân đợc mua không
quá 5% trên tổng số cổ phần của Doanh nghiệp.
- Đối với Doanh nghiệp mà Nhà nớc không nắm cổ phần chi phối, cổ
phần đặc biệt: Một pháp nhân đợc mua không quá 20%, một cá nhân đợc
mua không quá 10% trên tổng số cổ phần của Doanh nghiệp.
Tuy nhiên theo nghị định 44/CP đã có sự điều chỉnh nhằm khuyến khích
việc mua cổ phần: ngời mua cổ phần sẽ đợc vay một cổ phiếu khi mua một
cổ phiếu bằng tiền mặt. Với ngời lao động- họ sẽ đợc Nhà nớc bán cổ phần
với mức giá thấp hơn 30% so với giá bán cho các đối tợng khác, mỗi năm
làm việc tại Doanh nghiệp đợc mua tối đa 10 cổ phần. Đối với những ngời
lao động nghèo trong Doanh nghiệp cổ phần hóa, ngoài việc đợc mua cổ
phần u đãi họ còn đợc hoàn trả tiền mua cổ phần trong 3 năm đầu mà vẫn đ-
ợc hởng cổ tức, số tiền này cho phép họ trả dần trong 10 năm mà không phải
trả lãi.
1.2 Doanh nghiệp nhà nớc và sự cần thiết phải tiến
hành cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam.
2.1.1. T
ình hình hoạt động của các DNNN ở Việt Nam
hiện nay.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trờng định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay, khu vực Kinh tế Nhà nớc phải giữ
vai trò chủ đạo chi phối nền Kinh tế quốc dân cũng nh giúp đỡ các thành
phần kinh tế khác. Song trên thực tế, hiệu quả hoạt động của khu vực Kinh tế
Nhà nớc nói chung và hệ thống DNNN nói riêng còn tồn tại rất nhiều yếu
kém.
Trên địa bàn cả nớc vào năm 2000 chúng ta có khoảng 5800 DNNN
nắm giữ 88% tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhng hiệu
quả kinh doanh rất thấp. Chỉ có trên 40% DNNN là hoạt động có hiệu quả,
trong đó thực sự làm ăn có lãi và lâu dài chỉ chiếm dới 30%. Trên thực tế,
DNNN nộp ngân sách chiếm 80-85% tổng doanh thu, nhng nếu trừ khấu hao
cơ bản và thuế gián thu thì DNNN chỉ đóng góp đợc trên 30% ngân sách
Nhà nớc. Đặc biệt nếu tính đủ chi phí và TSCĐ, đất tính theo giá thị trờng thì
các DNNN hoàn toàn không tạo ra đợc tích luỹ.
Có thể đánh giá thực lực của DNNN trên 3 mặt:
Thứ nhất là Vốn: Các Doanh nghiệp luôn nằm trong tình trạng thiếu
vốn. Tình trạng Doanh nghiệp phải ngừng hoạt động do thiếu vốn kinh doanh
đã xuất hiện. Tình trạng Doanh nghiệp không có vốn và không có đủ khả
năng huy động vốn để đổi mới công nghệ đợc coi là phổ biến. Trong khi đó,
hiệu quả sử dụng vốn thấp kém, thất thoát vốn Nhà nớc ngày càng trầm
trọng. Năm 1998 chỉ tính riêng số nợ khó đòi và lỗ luỹ kế của các DNNN đã
lên đến 5.005 tỷ đồng . Theo Tổng cục Quản lý vốn và tài sản Nhà nớc tại
Doanh nghiệp , trong số gần 5800 DNNN, chỉ 40,4% đợc đánh giá là hoạt
động có hiệu quả (bảo toàn đợc vốn, trả đợc nợ, nộp đủ thuế, trả lơng cho ng-
ời lao động và có lãi) ; 44% số doanh nghiệp hoạt động cha có hiệu quả, khó
khăn tạm thời ; còn 15,6% số Doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. Tổng
cộng, có tới trên 59,6% DNNN hoạt động kém hiệu quả.
Thứ hai là Công nghệ: Công nghệ của các DNNN lạc hậu so với trình
độ chung của khu vực và của thế giới (thờng từ 2-3 thế hệ, cá biệt có công
nghệ lạc hậu tới 5-6 thế hệ), 76% máy móc thiết bị thuộc thế hệ những năm
50-60 và chủ yếu do Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu cung cấp. Hiện nay có
đến 54,3% DNNN trung ơng và 74% DNNN địa phơng còn sản xuất ở trình
độ thủ công, hiệu quả sử dụng trang thiết bị bình quân dới 50% công suất.
Đó chính là nguyên nhân làm cho khả năng cạnh tranh của các Doanh
nghiệp trên thị trờng nội địa cũng nh quốc tế hết sức thấp kém. Điều này
thực sự là một nguy cơ đối với các DNNNN và với nền Kinh tế Quốc dân
trong quá trình hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới.
Thứ ba là Trình độ, năng lực và bản lĩnh quản lý còn thấp so với yêu
cầu ngày càng cao. Tại các DNNN quyền sở hữu không gắn với quyền quản
lý vốn và tài sản. Mặt khác, do những nguyên nhân lịch sử, do ảnh hởng của
cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp để lại, các DNNN có số l-
ợng lao động lớn, cơ cấu lao động bất hợp lý, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế
vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu. Bên cạnh trách nhiệm về kinh tế, mỗi Doanh
nghiệp còn phải đảm trách nhiều chức năng xã hội nữa.
Từ tình hình trên, có thể thấy khu vực kinh tế Nhà nớc không phải là
điểm sáng nh chúng ta mong đợi, đặc biệt nó vẫn cha thực sự thể hiện tốt vai
trò chủ đạo vủa mình. Do đó vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải có một loạt
những giải pháp tiến hành đồng bộ nhằm đẩy nhanh tiến trình sắp xếp, đổi
mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Trong đó, cổ phần hóa
DNNN là một trong những biện pháp đợc Đảng và Nhà nớc đặt lên vị trí then
chốt, hàng đầu.
1.2.2 Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa DNNN.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, thực hiện cổ phần hóa là một nhiệm vụ rất
cần thiết và quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, cổ phần
hóa sẽ giải quyết đợc các vấn đề sau:
Thứ nhất: Thực hiện CPH là để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ
sản xuất và lực lợng sản xuất. Cổ phần hóa góp phần thực hiện chủ trơng đa
dạng hoá các hình thức sở hữu. Trớc đây chúng ta xây dựng một cách cứng
nhắc chế độ công hữu, thể hiện ở một số lợng quá lớn các DNNN mà không
nhận thấy quan hệ sản xuất này không phù hợp với lực lợng sản xuất còn
nhiều yếu kém, lạc hậu. Vì vậy cổ phần hóa sẽ giải quyết đợc mâu thuẫn
này, giúp lực lợng sản xuất phát triển.
Thứ hai: Thực hiện cổ phần hóa nhằm xã hội hoá lực lợng sản xuất,
thu hút thêm nguồn lực sản xuất. Khi thực hiện cổ phần hóa, ngời lao động
sẽ gắn bó, có trách nhiệm với công việc hơn, họ trở thành ngời chủ thực sự
của Doanh nghiệp. Ngoài ra, phơng thức quản lý đợc thay đổi, Doanh nghiệp
sẽ trở nên năng động, tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu
quả sản xuất.
Thứ ba: Bên cạnh đó, cổ phần hóa là một yếu tố thúc đẩy sự hình
thành và phát triển thị trờng chứng khoán, đa nền kinh tế hội nhập với kinh tế
khu vực và trên thế giới.
Thứ t: Thực hiện cổ phần hóa là một trong những giải pháp quan
trọng nhằm huy động các nguồn lực trong và ngoài nớc vào phát triển kinh
tế. Với việc huy động đợc các nguồn lực, các công ty cổ phần có điều kiện
mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu t đổi mới công nghệ, nâng cao đợc khả
năng cạnh tranh trên thị trờng, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Thứ năm: Cổ phần hoá tác động tích cực đến đổi mới quản lý ở cả
tầm vĩ mô và vi mô. Chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần không những
chỉ là sự thay đổi về sở hữu, mà còn là sự thay đổi căn bản trong công tác
quản lý ở cả phạm vi Doanh nghiệp và ở cả phạm vi nền Kinh tế quốc dân.
Thứ sáu: Cổ phần hoá là một giải pháp quan trọng để cơ cấu lại nền
kinh tế trong quá trình đổi mới đất nớc.
Nh vậy, đứng trớc thực trạng hoạt động yếu kém của hệ thống DNNN, cổ
phần hóa với những u điểm và mục tiêu của mình đã chứng tỏ đó là một chủ trơng
đúng đắn, phù hợp với quá trình đổi mới, phù hợp với giai đoạn quá độ đi lên
CNXH ở nớc ta.
Chơng 2 : cổ phần hóa Dnnn ở việt nam
( tại tổng công ty bia- rợu-nớc giảI khát hà
nội )
Thực trạng và giảI pháp.

2.1 Tiến trình cổ phần hóa DNNN trong những năm vừa qua.
Tiến trình cổ phần hóa 15 năm vừa qua (từ 1992- đến nay) có thể chia
làm 4 giai đoạn:
2.1.1 Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa (từ 1992 đến 1996).
Nhà nớc chỉ thí điểm thực hiện cổ phần hóa những Doanh nghiệp có
quy mô vừa và nhỏ, mang tính chất tự nguyện, việc bán cổ phần cũng chỉ
giới hạn trong những đối tợng là nhà đầu t trong nớc, trong đó u tiên bán cổ
phần cho ngời lao động. Chính vì vậy, mới chỉ có 5 Doanh nghiệp hoàn
thành cổ phần hóa trên tổng số khoảng 16 Doanh nghiệp đợc thí điểm trong
giai đoạn này. 5 Doanh nghiệp bao gồm: 3 DN trung ơng và 2 DN địa ph-
ơng :
Công ty Đại lý Liên hiệp vận chuyển thuộc Bộ GTVT - ngày thực
hiện CPH : 1/7/1993.
Công ty Cơ điện lạnh thuộc UBND Tp Hồ Chí Minh - ngày thực hiện
CPH : 1/10/1993.
Xí nghiệp Giày Hiệp An thuộc Bộ Công nghiệp - ngày thực hiện
CPH: 1/10/1994
Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu thuộc UBND tỉnh Long An -
ngày thực hiện CPH : 1/7/1995.
Xí nghiệp Chế biến thức ăn gia súc thuộc Bộ Nông nghiệp & phát
triển nông thôn - ngày thực hiện CPH : 1/7/1995.
2.1.2 Giai đoạn mở rộng (từ 1996 đến 2002).
Với nhiều cơ chế chính sách về cổ phần hóa đợc hoàn thiện và ban
hành đã đẩy nhanh tiến trình này. Đặc trng của giai đoạn này là việc mở rộng
nhiều hình thức cổ phần hóa mặc dù các cơ quan quản lý Nhà nớc vẫn phải
trực tiếp tham gia rất nhiều công đoạn và tổ chức điều hành. Đó là việc mở
rộng thêm diện bán cổ phần cho ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài và ngời
nớc ngoài định c lâu năm ở Việt Nam, mở rộng mức u đãi cho ngời lao động
trong Doanh nghiêp; có thể bán 100% vốn Nhà nớc tại Doanh nghiệp Kết
quả là giai đoạn này với một cơ chế cổ phần hóa ngày càng đợc hoàn thiện,
sự hởng ứng đối với tiến trình sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp ngầy
càng tăng lên, chúng ta đã tiến hành cổ phần hóa đợc 868 DNNN, bộ phận
DNNN.
2.1.3 Giai đoạn bắt đầu cổ phần hóa (từ 6/2002 đến
11/2004).
Với cơ sở pháp lý quan trọng là Nghị định số 64/2002/NĐ- CP của
chính phủ về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần. Đây là giai đoạn
Nhà nớc chủ động giao cho các Bộ, ngành, địa phơng trách nhiệm lựa chọn
và triển khai cổ phần hóa đối với Doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý mà
không trông chờ sự tự nguyện của các Doanh nghiệp cấp dới nh trớc đây.
Trong giai đoạn này, Nhà nớc cũng giao thêm quyền quyết định giá trị
Doanh nghiệp và phê duyệt phơng án cổ phần hóa cho Bộ trởng các Bộ, chủ
tịch UBND các tỉnh (trừ trờng hợp giảm trên 500 triệu đồng vốn nhà nớc
phải có ý kiến của Bộ tài chính). Bắt đầu áp dụng biện pháp nhằm công khai,
minh bạch hóa quá trình cổ phần hóa nh cho phép thuê các tổ chức trung
gian xác định giá trị Doanh nghiệp; dành tối thiểu 30% số cổ phần ( sau khi
trừ số lợng cổ phần nhà nớc nắm giữ, cổ phần bán u đãi cho ngời lao động)
để bán cho các nhà đầu t ngoài Doanh nghiệp Mặc dù về số lợng, giai đoạn
này chúng ta đã tiến hành cổ phần hóa đợc 1.435 DNNN, bộ phận DNNN
nhng theo đánh giá thì các DNNN đợc cổ phần hóa vẫn còn khá nhỏ bé cha
chiếm đến 5% tổng sốn vốn nhà nớc trong các doanh nghiệp, quá trình cổ
phần hóa còn khép kín, cha thực sự gắn với thị trờng nên vừa hạn chế công
tác huy động vốn của Doanh nghiệp vừa làm giảm sự giám sát của xã hội đối
với hoạt động của Doanh nghiệp, việc giải quyết lợi ích giữa các bên trong
một doanh nghiệp đợc cổ phần hóa cũng cha đợc hài hòa
2.1.4 Giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hóa (từ 12/2004 đến
nay).
Đợc đánh dấu bằng việc ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP của
Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nớc thành công ty cổ phần. Đã xuất
hiện các công ty nhà nớc có quy mô vốn lớn không thuộc diện nhà nớc giữ
100% vốn đợc cổ phần hóa nh Bảo Minh, Vĩnh Sơn và đ ợc niêm yết làm
tăng đáng kể quy mô của thị trờng chứng khoán. Các giải pháp để nâng cao
trách nhiệm của Doanh nghiệp cổ phần hóa và các cơ quan trong xử lý nợ, tài
sản tồn đọng, lao động dôi d cũng đợc tiến hành song song với việc bổ sung
các quy định để nâng cao tính khách quan, minh bạch, tính chuyên nghiệp
trong quá trình cổ phần hóa
2.2 Thực trạng cổ phần hóa DNNN và tình hình hoạt động của
Tổng công ty bia- rợu- nớc giảI khát Hà nội trong quá
trình cổ phần hóa.
2.2.1 Thực trạng cổ phần hóa DNNN.
Tính đến nay, cả nớc đã tiến hành cổ phần hóa đợc khoảng 3.500
Doanh nghiệp và bộ phận Doanh nghiệp Nhà nớc. Quá trình cổ phần hóa
DNNN ở Việt Nam đợc bắt đầu từ năm 1992, Nhà nớc chỉ chọn một số
Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, kinh doanh có lãi và tự nguyện cổ phần
hóa để thực hiện thí điểm. Suốt 4 năm (1992-1996) tuy chỉ cổ phần hóa đợc
5 Doanh nghiệp nhng cả 5 đơn vị này đều hoạt động có hiệu quả hơn trớc khi
tiến hành cổ phần hóa.
Do vậy, từ năm 1996 Đảng và nhà nớc đã ban hành nhiều chủ trơng
chính sách về cổ phần hóa, điểm mốc là Nghị quyết Hội nghị Trung ơng ba,
khóa IX (năm 2001) coi việc đẩy mạnh cổ phần hóa những DNNN không
cần nắm giữ 100% vốn là khâu quan trọng để tạo bớc chuyển biến cơ bản
trong việc nâng cao hiệu quả DNNN.
Các DNNN đã đợc tổ chức lại bằng các hình thức sáp nhập, hợp nhất,
giải thể, phá sản, khoán kinh doanh, cho thuê và cổ phần hóa. Các DNNN đã
liên tục giảm mạnh về số lợng từ 5759 Doanh nghiệp vào năm 2000, xuống
còn 4845 Doanh nghiệp năm 2003, 4596 vào năm 2004 và 4086 Doanh
nghiệp vào năm 2005. So với năm 2000, số DNNN năm 2005 đã giảm 20%
(1873 Doanh nghiệp), trong đó DNNN trung ơng giảm 11,7% (242 Doanh
nghiệp), DNNN địa phơng giảm 61,4% (1431 Doanh nghiệp). Mặt khác các
DNNN còn đợc cải thiện đáng kể về quy mô vốn. Các DNNN tiếp tục giữ vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế, cơ bản đã đáp ứng đợc nhu cầu thiết yếu cho
quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ công ích, đóng góp gần 40% GDP và 50%
tổng thu ngân sách Nhà nớc; 154 Doanh nghiệp đã đợc xử lý giãn nợ, khoanh
nợ, xóa nợ thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nớc với tổng số tiền lên đến
gần 315 tỷ đồng. Tính đến 31/12/2005, số nợ đọng trên 19.000 tỷ đồng đã đ-
ợc xử lý trong quá trình sắp xếp và cổ phần hóa. Quỹ hỗ trợ lao động dôi d
cũng đã thực hiện hỗ trợ cho gần 3600 Doanh nghiệp, giải quyết chính sách
cho hơn 19.000 ngời lao động với tổng số tiền 6087 tỷ dồng, bình quân
khoảng 32 triệu đồng/ngời lao động dôi d.
Theo kết quả khảo sát của Ban chỉ đạo đổi mới và Phát triển DNNN
đối với khoảng 500 Doanh nghiệp đã cổ phần hóa hơn một năm cho thấy,
doanh thu tăng 43%, lợi nhuận tăng trên 2,4 lần, thu nhập của ngời lao động
tăng 54%, cổ tức bình quân đợc chia 15,5%.
Cơ cấu DNNN đã chuyển đổi theo hớng nhà nớc chỉ nắm giữ những
lĩnh vực, ngành then chốt với thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm, dịch vụ
chủ yếu; không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn ở tất cả các ngành, lĩnh vực
và sản phẩm của nền kinh tế.
Quá trình cổ phần hóa trong thời gian qua đã đợc triển khai vững chắc
và đạt đợc các mục tiêu cổ phần hóa theo đúng định hớng: Đã chuyển đổi
những công ty Nhà nớc mà Nhà nớc không cần giữ 100% vốn sang loại hình
Doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của cá nhân, các tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội trong nớc và ngoài nớc để tăng năng lực tài chính, đổi
mới công nghệ, đổi mới phơng thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà n-
ớc, doanh nghiệp, nhà đầu t và ngời lao động trong Doanh nghiệp; Vai trò
của ngời lao động đợc nâng lên rõ rệt do đợc quyền làm chủ với t cách là cổ
đông, thực sự góp phần tạo ra động lực trong quá trình sản xuất kinh doanh
của Doanh nghiệp; thực hiện công khai minh bạch theo nguyên tắc thị trờng;
khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ Doanh nghiệp; gắn
với phát triển thị trờng vốn, thị trờng chứng khoán.
Theo nhận định của Ban chỉ đạo đổi mới và Phát triển DNNN, quá
trình chuyển đổi này diễn ra chậm ở tất cả các khâu và quan trọng hơn là cha
thực sự tạo đợc bớc chuyển biến về chất trong hoạt động của khối DNNN.
Tám tháng đầu năm 2004 cả nớc mới cổ phần hóa đợc 358 Doanh nghiệp mà
mục tiêu đặt ra trong năm 2004 là phải cổ phần hóa xong 700 Doanh nghiệp
và 800 Doanh nghiệp trong năm 2005, do vậy cần có những giải pháp mạnh
mới có thể thực hiện đợc.
Tuy nhiên trên thực tế ở các Doanh nghiệp cổ phần hóa, khoảng 38%
vốn vẫn do Nhà nớc nắm giữ, tỷ lệ bán ra bên ngoài nhiều nhất cũng cha đến
10%. Điều này cho thấy tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ
Doanh nghiệp vẫn đang diễn ra phổ biến; hạn chế việc thu hút nhà đầu t có
tiềm năng vốn, công nghệ và trình độ quản lý.
2.2.2 Tình hình cổ phần hóa Tổng công ty bia- rợu- nớc
giảI khát Hà nội( Habeco).
Tổng công ty Bia- Rợu- Nớc giải khát Hà nội (Habeco) là một trong
mời doanh nghiệp đợc báo Sài Gòn Tiếp Thị bình chọn Hàng Việt Nam
chất lợng cao năm 2006 về lĩnh vực rợu bia. Cùng năm Doanh nghiệp đợc
xếp vào Top 100 Thơng hiệu mạnh Việt Nam.

Ngày 23/1/2007, Thủ tớng Nguyễn Tấn Dũng đã phê duyệt Đề án cổ phần
hóa Tổng công ty Bia- Rợu- Nớc giải khát Hà Nội, nhằm huy động thêm vốn,
nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của công ty.
Theo quyết định 18/2007/QĐ-BCN: Quy hoạch tổng thể phát triển
ngành Bia- Rợu-Nớc giải khát Việt nam năm 2010 do Bộ Công nghiệp ban
hành ngày 8/5/2007. Theo đó xây dựng ngành Bia- Rợu- Nớc giải khát thành
một ngành kinh tế mạnh, phấn đấu hạ giá thành, nâng cao khả năng cạnh
tranh, đáp ứng nhu cầu trong nớc và đẩy mạnh xuất khẩu, tăng nguồn thu
ngân sách, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét