Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm tạo động lực cho người lao động tại Công ty Điện lực Hoàng Mai

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Điều này đòi hỏi các nhà quản lý cần phải quan tâm sát thực đến lợi ích của người lao động
trong mối quan hệ lợi ích của cả tập thể.
* Lợi ích và tạo động lực vật chất, tinh thần trong lao động.
Lợi ích sẽ tạo động lực trong lao động, lợi ích tạo động lực vật chất, tinh thần trong lao
động. Song trong thực tế động lực tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào
cơ chế cụ thể để sử dụng nó như là một nhân tố cho sự phát triển của doanh nghiệp. Mặt khác,
muốn lợi ích tạo ra động lực cần phải tác động vào nó, kích thích nó, làm tăng hiệu quả trong
công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể.
Để kích thích lợi ích cho người lao động, nhà quản lý dùng những hình thức và phương
pháp khác nhau, trong đó đặc biệt kích thích về kinh tế và tâm lý lao động. Hai loại kích thích
này gắn chặt với lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của người lao động, nó được coi như là
một công cụ, một phương tiện, một cơ chế để có thể thực hiện những lợi ích của người lao
động trong thực tiễn.
Nhận xét: Tóm lại, bản chất của tạo động lực là hệ thống các biện pháp mang tính chất đòn
bẩy về vật chất và tinh thần nhằm kích thích thúc đẩy người lao động làm việc đạt năng suất
chất lượng cao.
Như vậy, về bản chất tạo động lực trong lao động chính là tạo sự quan tâm của người lao
động đối với kết quả lao động cuối cùng trong Công ty. Mối quan tâm đó càng cao thì động
lực lao động cũng càng lớn cho nên bất kỳ biện pháp nào chúng tôi cũng quan tâm đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh, nâng cao lợi nhuận. Để đạt được điều đó họ phải thực hiện các biện
pháp nhằm khuyến khích trong lao động và từng tập thể lao động đều phải quan tâm đến việc
đạt được các mục tiêu đề ra của Công ty. Có nghĩa là họ phải tạo động lực cho người lao động.
2 – Các hình thức tạo động lực vật chất, tinh thần chủ yếu cho người lao động trong
sản xuất.
Công tác tạo động lực vật chất, tinh thần trong lao động là một khâu rất quan trọng trong
quản lý lao động tại các đơn vị, doanh nghiệp…đặc biệt là các doanh nghiệp có hoạt động sản
xuất kinh doanh. Do đó các hình thức tạo động lực rất đa dạng và phong phú như tiền lương,
tiền thưởng, phụ cấp, BHXH, BHYT…và các hình thức mang tính chất đoàn thể, cụ thể là:
+ Tổ chức thực hiện tiền lương, tiền thưởng trong lao động.
+ Cải thiện điều kiện lao động và môi trường lao động.
+ Thực hiện các chế độ trợ cấp, phụ cấp, phúc lợi, BHXH, BHYT.
+ Xây dựng mối quan hệ trong lao động ( Bầu không khí tâm lý lao động tập thể ).
Như vậy, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là thị trường lao động,
người lao động tự do tìm hiểu việc làm, người sử dụng lao động tự do thuê mướn lao động cho

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
sự phát triển của doanh nghiệp mình.Do đó, để tạo ra một động lực tinh thần, vật chất trong lao
động được mạnh mẽ đòi hỏi nhà quản lý cần phải vận dụng linh hoạt chặt chẽ các hình thức và
biện pháp tạo động lực, đồng thời phải kết hợp chặt chẽ quy chế thưởng, phạt trong lao động
sản xuất.
3 – Các nhân tố tác động tới tạo động lực trong lao động.
Để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc, đồng thời thúc đẩy kinh doanh
phát triển Công ty chú trọng đến công tác kích thích tạo động lực trong lao động đối với
CBCNV trong công ty.
Công ty thực hiện tốt việc trả lương, thưởng, các chế độ trợ cấp phúc lợi, phụ cấp, BHXH,
BHYT, xây dựng mối quan hệ lao động trong Công ty và một số hình thức khác. Tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, thi nâng bậc, nâng lương, tổ
chức nơi làm việc, phát động thi đua lao động trong các bộ phận.
+ Thực hiện mô hình tổ chức sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu phân cấp của Công ty. Ban
hành các quy chế dân chủ, quy chế xét thưởng và tiền lương sản xuất khác…
+ Thực hiện chế độ thanh toán tiền lương, tiền thưởng đúng quy định kịp thời đi vào nề nếp,
thu nhập bình quân của CBCNV năm 2004 là 2.000.000 đ/người/tháng, năm 2006 là 2.500.000
đ/người/tháng, năm 2007 là 3.000.000 đ/người/tháng, các khoản chế độ thanh toán đối với
người lao động đầy đủ, cập nhật, ký sổ lương hàng tháng theo quy định.
+ Tỷ lệ % số lao động được đảm bảo các quyền lợi về BHXH, BHYT. Công tác BHXH,
BHYT luôn được Công ty quan tâm chú trọng. Đối với lao những động được ký kết hợp đồng
lao động từ 6 tháng trở lên đều được tham gia đóng BHXH, điều này nhằm bảo vệ quyền lợi
cho người lao động. Về BHYT thì hầu như 100% số lao động trong Công ty đều phải bắt buộc
tham gia và được hỗ trợ một phần kinh phí từ Công ty về công tác BHYT cho người lao động
đang làm việc.
+ Về công tác bảo hộ lao động: đối với công nhân sản xuất đến Công ty làm việc đều được
trang bị đầy đủ các phương tiện bảo hộ lao động theo yêu cầu công việc, được trang bị quần áo
đồng phục và quần áo bảo hộ lao động khi làm việc, trang bị mũ, ủng, găng tay…đảm bảo an
toàn cho người lao động trong khi làm việc.
Bên cạnh những đòn bẩy kích thích vật chất nhằm tạo động lực trong lao động, Công ty còn
áp dụng các hình thức động viên tinh thần tác động đến tâm lý tình cảm người lao động theo
định kỳ hàng tháng, Công ty thường kiểm tra cân nhắc các bộ phận, cá nhân trên cơ sở họ đã
cống hiến cho Công ty trong công việc đề nghị lên cấp trên khen thưởng bằng các hình thức:
Tặng bằng khen, giấy khen, danh hiệu lao động giỏi, chiến sỹ thi đua…Công ty còn quan tâm
đến tinh thần người lao động thông qua hình thức thăm hỏi động viên đối với những lao động

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
không may rơi vào hoàn cảnh éo le bất chắc trong cuộc sống. Hình thức này có ý nghĩ rất lớn
trong việc kích thích mọi người tích cực phấn đấu hơn nữa trong công tác.
Song song với những đòn bẩy kinh tế kích thích vật chất và tinh thần đối với người lao động
thì Công ty cũng tiến hành áp dụng khá chặt chẽ nội quy, quy đinh lao động, điều lệ làm
việc…thông qua các quy chế hoat động cho các phòng ban, tổ đọi trong toàn Công ty. Chính vì
thế đã góp phần nâng cao tính kỷ luật, tự giác…trong công tác cũng như trong sinh hoạt tập
thể.
Như vậy, chính sách tạo động lực trong lao động mà Công ty đang áp dụng có vai trò quan
trọng trong việc kích thích tinh thần người lao động. Nhưng để nâng cao hơn nữa hiệu quả
công tác này thì Công ty phải thường xuyên duy trì các biện pháp trên một cách phù hợp và
chú ý nghiên cứu những biện pháp cụ thể nhằm phù hợp với từng trường hợp cụ thể và theo
thời điểm xác định.
4 – Sự cần thiết phải tạo động lực trong lao động của Công ty Điện lực Hoàng Mai.
4.1 – Vai trò của tạo động lực trong lao động tại Công ty Điện lực Hoàng Mai.
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như vai trò và ý nghĩa của công tác tạo động lực
trong lao động, Ban lãnh đạo Công ty đã tiến hành xây dựng cho Công ty mình một quy chế
dân chủ riêng để áp dụng và tạo điều kiện thúc đẩy công tác tạo động lực trong lao động.
Nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kin h doanh, Công ty Điện lực Hoàng
Mai đã xây dựng cho mình một quy chế dân chủ để áp dụng các nội quy, quy định. Các hình
thức và phương pháp tác động đến người lao động như: kích thích bằng tiền lương, tiền
thưởng, phụ cấp, thực hiện tốt các chế độ trợ cấp phúc lợi xã hội, BHYT, BHXH, tặng quà cho
các cán bộ công nhân viên trong các dịp lễ tết, ốm đau…Song hình thức kích thích bằng tiền
lương, tiền thưởng là chủ yếu. Do đó một phần nào nó chỉ tác động mặt vật chất cho người lao
động, mà ở đây mặt tinh thần cho người lao động không thấy tác động đến. Cho nên, nó dẫn
đến hạn chế trong việc khai thác và phát huy hết khả năng của người lao động. Vì vậy, vấn đề
đặt ra ở đây cần phải kết hợp hài hòa, chặt chẽ giữa vật chất và tinh thần. Vật chất tạo động lực
cho tinh thần, tinh thần quyết định vật chất, phản ánh vật chất.
4.2 – Những thuận lợi khó khăn và thách thức đang đặt ra đối với vấn đề tạo động lực ở Công
ty Điện lực Hoàng Mai.
* Thuận lợi: Đây là một Công ty của Nhà nước do các văn bản Nhà nước quy định cho
nên Công ty phải thực hiện theo các văn bản quy định đó. Công ty luôn quan tâm đến kết quả
cuối cùng của người lao động cho nên công tác tạo động lực để nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh là một vất đề mà ban lãnh đạo Công ty luôn chú ý, quan tâm.

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Là doanh nghiệp Nhà nước, Công ty luôn được Nhà nước và Điện lực thành phố Hà
Nội tạo điều kiện hỗ trợ về vốn, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật…Đó là những thuận lợi
nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Có được những thuận lợi trên Công ty đã thực hiện tốt công tác tạo động lực trong lao
động như các chính sách về tiền lương, tiền thưởng các chế độ đái ngộ khác với người lao
động, đảm bảo nhu cầu vật chất cho người lao động. Đó là những thuận lợi cơ bản mà Ban
lãnh đạo Công ty có được để thực hiện tốt tạo động lực trong lao động.
Bên cạnh những thuận lợi đó Ban lãnh đạo Công ty cũng không thể tránh khỏi những
khó khăn và thách thức. Do đó, cần phải khắc phục những khó khăn trên là nhiệm vụ của toàn
Công ty mà công tác tạo động lực là một trong những biện pháp quan trọng nhất.
* Một số khó khăn và thách thức đối với vấn đề tạo động lực trong lao động tại Công
ty.
Những tồn tại trong công tác quản lý vận hành :
- Công tác QLVH năm 2004 được lãnh đạo hết sức quan tâm từ khâu tổ
chức lực lượng sản xuất, củng cố điều động cán bộ cho Đội VH, Phòng điều độ
và cán bộ theo dõi công tác vận hành của các đội QL điện phường tuy vậy vẫn
còn để xảy ra sự cố ĐDK, sự cố trạm biến áp, lệch pha hạ thế, vệ sinh công
nghiệp còn nhiều trạm bẩn, ATM nhảy do tiếp xúc và sự cố mất điện trong hòm
công tơ còn để xảy ra.
- Hồ sơ sổ sách quản lý của một số đơn vị ghi chép chưa đầy đủ, thiếu chữ
ký người được cấp phát dụng cụ làm việc và BHLĐ vv…
- Công tác tuyên truyền giáo dục phẩm chất người công nhân thợ điện Thủ
Đô được làm thường xuyên xong vẫn còn một số công nhân do thiếu ý thức
trách nhiệm trong giờ làm việc không sử dụng đầy đủ trang bị BHLĐ theo quy
định, giao tiếp với KH chưa tốt để dân khiếu kiện, giải quyết sự cố chậm, các
vụ vi phạm hành lang an toàn lưới điện chưa làm trịêt để.
Những tồn tại trong công tác kinh doanh, giảm tổn thất điện năng :
+ Công tác quản lý khách hàng có nhiều tiến bộ đáp ứng được yêu cầu
phát triển phụ tải trên địa bàn quận Hoàng Mai nhưng còn một số công nhân ghi
chữ do thiếu tinh thần trách nhiệm quản lý phụ tải không chặt chẽ để khách

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
hàng câu móc, thay K, đấu chíp, lấy cắp điện thời gian dài mà không phát hiện
được thậm chí còn có công nhân ghi sai, tự tôn chỉ số gây thắc mắc khiếu kiện
phải xử lý kỷ luật.
+ Việc xác định tổn thất ở một số trạm lên xuống không bình thường, bản
thân công nhân quản lý và lãnh đạo đội chưa tìm rõ nguyên nhân để khắc phục
việc chỉ đạo tổ áp giá kinh doanh chưa thật xâu sát.
+ Việc điều chỉnh và hoãn thực hiện giá bán điện sinh hoạt của chính phủ
đầu năm 2005 gây nhiều bức xúc trong dân làm cho công tác ghi chữ, lập hoá
đơn, thu tiền điện gặp rất nhiều khó khăn vv
+ Về thị trường lao động: sự cạnh tranh ngày càng ngay ngắt trên thị trường lao động
như các hiện tượng thu hút lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao giữa các doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp phát triển luôn luôn làm tốt công tác tạo động lực nhằm thu hút lực
lượng lao động có chuyên môn, tay nghề giỏi, đồng thời sẽ sử dụng được các lao động có tay
nghề. Đó là một thách thức mới đối với ban lãnh đạo Công ty. Vì vậy, Công ty phải thực hiện
tốt công tác tạo động lực trong lao động.
Như vậy, việc sử dụng các hình thức và phương pháp kích thích nhằm tạo ra động lực
vật chất, tinh thần trong lao động cho người lao động hết sức cần thiết đối với Công ty, bởi
điều đó không những ảnh hưởng đến chất lượng của người lao động mà còn ảnh hưởng đến
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Mặt khác, nếu công tác tạo động lực vật
chất, tinh thần trong lao động được thực hiện tốt, tức là người lao động thỏa mãn nhu cầu vật
chất và tinh thần của mình, từ đó nâng cao chất lượng hiệu quả công việc, nâng cao năng suất
lao động, giúp công ty mở rộng sản xuất kinh doanh. Vị thế Công ty trong tập đoàn Điện lực
sẽ được khảng định. Do đó, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng của Công ty là
cần thiết, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tạo động lực cho người lao động tại Công ty
Điện lực Hoàng Mai là hết sức cần thiết và đó là sự đòi hỏi khách quan của thực tiễn.
Chương II. THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC TRONG LAO ĐỘNG Ở CÔNG
TY ĐIỆN LỰC HOÀNG MAI.
1 – Sự hình thành và phát triển của Công ty Điện lực Hoàng Mai.
Công ty Điện Lực Hoàng Mai là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Công ty Điện
lực thành phố Hà Nội với nhiệm vụ chính là đảm bảo cung ứng điện an toàn, ổn định và liên

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
tục phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn
quận Hoàng Mai.
- Tên: ĐIỆN LỰC HOÀNG MAI
- Địa chỉ: CC2 - Bắc Linh Đàm - Hoàng Mai - Hà Nội
- Tel: 6413872
- Fax: 6413934
- Email: dlhm_hnpc@evn.com.vn
- Loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp Nhà nước
- Cơ quan quản lý trực tiếp cấp trên: Công ty Điện lực thành phố Hà Nội.
* Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty
Điện lực hoàng Mai chúng tôi là một đơn vị mới, chính thức được thành lập từ ngày 01
/ 05 / 2004 trên cơ sở sát nhập 5 phường của quận Hai Bà Trưng và 9 xã huyện Thanh Trì. Là
một quận có địa bàn cấp điện rộng, mật độ dân số đông đúc, quận đang trên đường đô thị hóa
nhanh, nhiều khu vực phức tạp. Việc xây dựng, phát triển lấn chiếm hành lang an toàn lưới
điện thường xuyên xẩy ra nên việc cấp điện và bảo vệ thiết bị lưới điện gặp nhiều khó khăn.
Đòi hỏi về chất lượng điện của khách hàng ngày càng cao trong khi lưới điện còn nhiều khu
vực chưa được cải tạo, thiết bị còn cũ, chất lượng kém.
Được sự chỉ đạo sâu sát có hệu quả của Công ty Điện lực thành phố Hà Nội, Quận ủy,
UBND quận Hoàng Mai và các đơn vị bạn, với nỗ lực của toàn thể lãnh đạo, CBCNV nên
nhiệm vụ SXKD năm 2004 của Điện lực Hoàng Mai đã cơ bản được hoàn thành.
Trong giai đoạn này, mô hình tổ chức quản lý như sau:
- Tổng số CBCNV đến ngày 31/12/2004 là 169 đồng chí ( nam 108 đ/c, nữ 61 sđ/c),
trong đó:
- Đảng viên có 17 đ/c , chiếm tỷ lệ 10% CBCNV
- Đoàn viên thanh niên có 46 đ/c chiếm tỷ lệ 35% CBCNV
- Số người có trình độ Đại học, cao đẳng là 41 đ/c
- Mô hình tổ chức sản xuất gồm 20 đơn vị, trong đó có 8 phòng ban chức năng, 12 tổ
đội sản xuất.
Ban giám đốc có 3 đ/c:
+ Giám đốc phụ trách chung về công tác sản xuất kinh doanh
+ Phó giám đốc phụ công tác kỹ thuật
+ Phó giám đốc phụ trách công tác kinh doanh

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Tính đến ngày 30 / 11/ 2007 mô hình tổ chức quản lý như sau:
Tổng số CBCNV là 243 người. Trong đó: Nữ là 97 người, nam 146 người.
- Trình độ Đại học, cao đẳng: 67 người.
- Mô hình tổ chức sản xuất: Bao gồm 22 đơn vị SXKD
Trong đó:
+ Có 9 phòng ban chức năng: Kinh doanh, Tài chính kế toán, Kế hoạch, Kỹ thuật, Đầu tư
xây dựng cơ bản, Điều độ, Tổng hợp, Thiết kế, Viễn thông và Công nghệ thông tin.
+ Có 14 đội, tổ sản xuất: Vận hành, Đại tu, Treo tháo công tơ, Tổ thu cước viễn thông và 8
đội quản lý điện phường.
Trong quá trình phát triển của mình, Năm 2007 Điện lực Hoàng Mai đã được UBND Quận
tặng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong công tác đảm bảo điện phụ vụ Bầu cử đại biểu
quốc hội khóa XII. Chi bộ Điện lực được công nhận là Chi bộ trong sạch, vững mạnh.
a) Hệ thống tổ chức bộ máy .
Công ty Điện lực Hoàng Mai là một doanh nghiệp thành viên thực hiện chế độ quản lý trực
tiếp một thủ trưởng, đứng đầu công ty là Giám đốc kiêm bí thư Đảng ủy.
- 2 phó Giám đốc
- 9 phòng ban chức năng
- 14 đội, tổ sản xuất
- 8 đội quản lý điện phường
Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Điện lực Hoàng Mai sau khi đã tổ chức lại cơ cấu
quản lý:
( Nguồn phòng tổng hợp )

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
12
GIÁM ĐỐC
PHã GĐ KINH
DOANH
PHã GĐ KỸ
THUẬT
P. KỸ THUẬT
P. Kinh doanh
P. TỔNG HỢP
P. ĐIÒU ĐỘ
P. THIÕT KÕ
ĐỘI
CÔNG

P. TCKT
P. KHVT
ĐỘI
VẬN
HÀN
H
ĐỘI
1
ĐỘI
F9
ĐỘI
4
ĐỘI
7
ĐỘI
6
ĐỘI
5
ĐỘI
3
ĐỘI
2
ĐỘI
8
ĐỘI
ĐẠI
TU
TỔ
ÁP
GIÁ
ĐIỆN
P. VIỄN THÔNG
& CNTT
P. ĐTXDCB
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
b) Chức năng, nhiệm vụ của Công ty Điện lực Hoàng Mai.
* Chức năng: Công ty Điện lực Hoàng Mai là một doanh nghiệp Nhà nước, là đơn vị hạch
toán độc lập nằm dưới sự quản lý của Công ty Điện lực thành phố Hà Nội.
* Nhiệm vụ của Công ty: Xây dựng, tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh
và dịch vụ, những kế hoạch liên quan nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ
trong Công ty. Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết trong những hợp đồng kinh tế, dịch
vụ với tư gia và cơ quan mà Công ty ký kết với khách hàng. Đổi mới hiện đại hóa công nghệ
máy móc trang thiết bị và phương thức quản lý trong cơ chế thị trường để không ngừng đưa
Công ty phát triển và đi lên. Tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo công ăn việc làm
ổn định cho CBCNV toàn Công ty.
1.1 – Thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại Công ty Điện lực Hoàng Mai.
1.1.2 – Hệ thống chức danh công việc.
Căn cứ vào hệ thống chức danh công việc tại Công ty ĐLHM, dựa vào tình hình hoạt động
kinh doanh, đặc điểm riêng biệt và mức độ phức tạp của bước công việc mà các phòng ban, tổ
đội sản xuất tự xây dựng và hoàn thiện cho mình những mẫu biểu, phiếu mô tả công việc của
bộ phận mình trình ban giám đốc Công ty xét duyệt và đưa vào áp dụng, thực hiện cho phù
hợp. Tiêu biểu cho hệ thống chức danh công việc trong Công ty, ta đi vào nghiên cứu cụ thể
phiếu mô tả công việc sau:
MB: 019 ( 27/06/2006 )
CÔNG TY ĐIỆN LỰC HOÀNG MAI
PHIẾU MÔ TẢ CÔNG VIỆC
( Dùng cho cán bộ quản lý từ tổ trưởng trở lên )
Hà nội, ngày 10 tháng 01 năm 2008
Họ tên: DƯƠNG THỊ HẠNH
Bộ phận: Phòng tổng hợp
Chức danh: Trưởng phòng tổng hợp
Mô tả công việc:
Chịu trách nhiệm chung và trực tiếp chỉ đạo các công việc sau:
- Mô hình tổ chức quản lý, biên chế lao động, chức năng nhiệm vụ của các đơn
vị.
- Các văn bản quy chế quản lý Công ty.
- Công tác tuyển mộ lao động.

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Công tác thi đua, khen thưởng, công tác đối ngoại.
- Các công việc khác của Công ty khi giám đốc phân công.
GIÁM ĐỐC CÔNG TY TRƯỞNG BỘ PHẬN NGƯỜI THỰC HIỆN
Qua phiếu mô tả công việc cụ thể trên ta thấy, tùy thuộc vào đặc điểm công việc của từng
bộ phận mà xây dựng lên được những bước công việc cụ thể của từng người lao động, phù hợp
với trình độ chuyên môn người lao động. Dựa trên tiêu chuẩn của cấp bậc công việc, cấp bậc
công nhân các phiếu mô tả công việc đã chỉ rõ công việc phải làm cho từng người là việc gì?
và thể hiện trách nhiệm của họ đối với công việc được giao.
1.1.3 – Tuyển chọn, tuyển mộ lao động.
Mục đích tuyển chọn lao động của công ty là để tìm được những người có năng lực, có
trình độ, có phẩm chất đạo đức tốt, năng động, sáng tạo và thiết tha với công việc. Công tác
tuyển dụng nhân sự được giao cho phòng tổng hợp có trách nhiệm phối hợp với các phòng, bộ
phận chức năng trong Công ty để thành lập hội đồng tuyển dụng lao động trong đó gồm các
thành viên là những người tích cực, gương mẫu, đạo đức tốt có trình độ khả năng được lựa
chọn. Hội đồng tuyển dụng có trách nhiệm xác định rõ ràng nhiệm vụ tuyển dụng và phương
pháp tuyển dụng cụ thể.
Căn cứ vào nhu cầu lao động, nhiệm vụ sản xuất và kế hoạch biên chế lao động, hội đồng
tuyển dụng tổ chức tuyển sao cho có hiệu quả, đảm bảo công bằng khách quan, phù hợp với
yêu cầu tuyển chọn. Công ty cũng quan tâm đến lợi ích của cán bộ công nhân viên, nên có sự
ưu ái chừng mực nhất định với con em trong đơn vị, song cần đảm bảo sự công bằng bình
đẳng, coi trọng năng lực của người lao động.
Công việc tuyển chọn lao động thường thực hiện thông qua các hình thức: Lịch sử, phỏng
vấn, quan sát và tuân thủ trình tự để nhằm tìm được người có đủ khả năng đáp ứng được nhu
cầu của công việc.
* Hình thức lịch sử:
Người lao động muốn làm việc tại Công ty phải nộp đầy đủ hồ sơ cho phòng tổng hợp. Hồ
sơ phải có đầy đủ yêu cầu do hội đồng tuyển chọn đề ra, thông qua đó hội đồng tuyển dụng
nghiên cứu và quyết định hồ sơ lao động có phù hợp với yêu cầu công việc của Công ty. Khi
được hội đồng chấp nhận phòng tổng hợp mời đối tượng tuyển dụng đến phỏng vấn trực tiếp
để phát hiện ra những vấn đề của đói tượng tuyển mộ như: Hình thể, trình độ chuyên môn
được đào tạo, năng lực, sở trường …
* Hình thức quan sát.

Sinh viên: Phạm Sỹ Bách – Lớp QTNL – K7
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét