Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

nghiệp vụ tái bảo hiểm hàng hóa xuât nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Chuyên đề tốt nghiệp
3.2.4. Về phía Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện 74
a) Hoàn thiện sản phẩm Bảo hiểm Hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển 74
b) Lựa chọn phương pháp TBH hợp lý: 75
c) Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ phòng TBH 75
d) Nâng cấp hệ thống thông tin 76
e) Mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế 76
Tài liệu hướng dẫn 77
KẾT LUẬN 78
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng II.1.2: Cơ cấu doanh thu qua các năm 2007 – 2008 36
Bảng II.2.1: Tình hình doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK
vận chuyển bằng đường biển của các công ty năm 2007 45
Bảng II.3.1: Tình hình doanh thu nghiệp vụ tại PTI 50
Bảng II.5.1: Tổng kết doanh thu phí nhượng tái nghiệp vụ TBH hàng
hoá 60
Bảng II.5.2: Phân bổ tổn thất theo các hợp đồng nghiệp vụ nhượng TBH
hàng hoá ở PTI từ năm 2004-2008 61
Bảng II.5.2.1: Thống kê doanh thu phí nhận tái 63
Bảng II.5.2.2: Phân bổ tổn thất theo các hợp đồng nghiệp vụ nhượng
TBH hàng hoá ở PTI từ năm 2004-2008 63
Bảng II.5.5.3: Tỷ lệ tổn thất tính theo doanh thu phí nghiệp vụ nhận
TBH hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển tại PTI 64
Bảng II.6.2.1: Tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu phí nhận TBH
66
Bảng II.6.2.2: Thống kê đơn vị tổn thất nghiệp vụ nhận và nhượng tái67
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007, sau nhiều năm tham gia đàm phán,
Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới WTO, mở ra giai đoạn
phát triển mới cho nền kinh tế nước nhà nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt này, cơ hội sẽ chia đều cho mọi
thành viên chứ không phải là các công ty nước ngoài chiếm ưu thế.Sự cạnh tranh
gay gắt trên thị trường bảo hiểm khi Việt Nam là thành viên chính thức của
WTO chính là cơ hội để sàng lọc và chỉ những DN thực sự “khoẻ” mới đủ sức để
trụ vững và phát triển. "
Sự hiện diện của nhiều công ty nước ngoài đã giúp thay đổi cách
thức quản lý cũng như tiếp cận thị trường của ngành bảo hiểm. Thị trường được
tái cấu trúc lại theo hướng tốt hơn về mặt pháp luật trở nên minh bạch hơn Điều
đặc biệt là các công ty trong nước cũng bắt đầu niêm yết tại các thị trường chứng
khoán nước ngoài để khẳng định vị trí của mình.
Đối với dịch vụ bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, tỷ trọng hàng hoá
xuất nhập khẩu mua bảo hiểm còn quá khiêm tốn so với tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của Việt Nam. Các cam kết về dịch vụ bảo hiểm của Việt Nam cũng
chưa có tác động đáng kể đối với dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu".
Việc trở thành thành viên của WTO không chỉ tạo ra những thay đổi
to lớn đối với mỗi doanh nghiệp bảo hiểm, mà riêng đối với nghiệp vụ bảo hiểm
hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển, điều này cũng khiến thị trường xuất
nhập khẩu của Việt Nam có những biến động nhất định.
Song song với việc thực hiện các cam kết về thuế, chúng ta cũng triến khai
một loạt các cam kết liên quan khác. Về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu: Việt
Nam đồng ý cho doanh nghiệp nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng hóa
như doanh nghiệp Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ các mặt hàng thuộc danh mục
"thương mại nhà nước"
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Có thể khẳng định, sau 2 năm gia nhập WTO, mặc dù còn nhiều khó khăn
trước mắt, nhưng nền kinh tế Việt nam đã vượt qua được những thách thức, rút ra
được những bài học bổ ích để từng bước phát triển bền vững. Với xuất phát điểm
là một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, ở trình độ thấp và có quy mô
nhỏ so với kinh tế thế giới, các biến động phức tạp và khó lường trước của nền
kinh tế thế giới thời gian qua đã có tác động không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, so với nhiều nước trong khu vực, chúng ta vẫn đạt được những chỉ
tiêu kinh tế đáng khích lệ. Hoạt động xuất nhập khẩu vẫn tiếp tục khởi sắc, duy
trì tăng trưởng cao, năm 2008 dự kiến xuất khẩu xấp xỉ 63 tỉ USD, tăng trên
29,5% so với 2007, nhập khẩu ước đạt 79,9 tỉ USD, tăng 27,5% so với 2007. 10
mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch trên 1 tỉ USD như: Dệt may, cà
phê, cao su, thủy sản, dầu thô, giầy dép, điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm gỗ
và nhóm sản phẩm cơ khí, tiếp tục được giữ vững; đồng thời mặt hàng dây điện
và cáp điện cũng có khả năng trở thành thành viên của “câu lạc bộ 1 tỉ USD” này.
Môi trường kinh doanh được cải thiện một cách rõ rệt, minh bạch hơn nhờ
thực thi các cam kết về minh bạch hóa chính sách, không phân biệt đối xử, giảm
bớt rào cản trong tiếp cận thị trường và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nhận thức
của người dân và các doanh nghiệp về việc tham gia WTO đã có sự chuyển biến
tích cực.
Việt Nam trở thành nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào một số
ngành như điện tử, tin học, dệt may, luyện và cán thép, ngân hàng, tài chính bảo
hiểm, bất động sản Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ
toàn cầu năm 2008, nhưng GDP vẫn đạt mức tăng trưởng khoảng 6,5%, tuy có
giảm hơn so với năm 2007, thu hút đầu tư nước ngoài tăng rất mạnh trong năm
2007, năm 2008, số vốn đăng kí đạt gần 64 tỉ USD.
Tất cả những thay đổi trên đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp bảo hiểm.
Là một công ty dù đã được thành lập hơn 10 năm, nhưng so với các công ty
lâu năm trên thị trưởng như Bảo Việt, PJICO…và các công ty nước ngoài, khả
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
2
Chuyên đề tốt nghiệp
năng tài chính của Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện hết sức quan tâm và đã
thực hiện nghiệp vụ TBH để đảm bảo ổn định kinh doanh. Trong quá trình thực
hiện vẫn còn nhiều vần đề cần nghiên cứu và làm rõ để giải quyết vướng mắc ở
các khâu nghiệp vụ.
Với vốn kiến thức còn hạn chế của một sinh viên sắp ra trường và niềm yêu
thích với nghiệp vụ TBH, trong thời gian thực tập ở Công ty cổ phần Bảo hiểm
Bưu điện, em xin mạnh dạn đề xuất đề tài:
“Phát triển nghiệp vụ TBH hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đường biển tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)”.
Chuyên đề được chia thành ba chương:
CHƯƠNG I: Lý luận chung về nghiệp vụ TBH hàng hóa xuât nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển.
CHƯƠNG II: Hoạt động kinh doanh nghiệp vụ TBH Bảo hiểm Hàng
hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty Cổ phần Bảo
hiểm Bưu điện trong giai đoạn 2004-2008.
CHƯƠNG III. Một số kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ TBH hàng
hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
Mặc dù hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn bài viết không thể tránh khỏi
những thiếu sót nhất định. Kính mong sự đóng góp ý kiến, nhận xét của thầy cô
giáo, các cán bộ và các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Ths. Bùi
Quỳnh Anh và ban lãnh đạo và tập thể các cán bộ công ty PTI, đặc biệt là các cán
bộ TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ phòng TBH đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết
này.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: Lý luận chung về nghiệp vụ TBH hàng hóa xuât
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
1.1. Khái quát về Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đường biển
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Việc các quốc gia Châu Âu thông qua các cuộc viễn chinh tới Châu
Á và Châu Mỹ nhằm tìm ra những tuyến đường thương mại mới vào thế kỷ 15 và
16 đã tạo ra “Cuộc cách mạng thương mại”. Chính điều này đã cho phép các
quốc gia hùng mạnh ở Châu Âu xây dựng một mạng lưới thương mại quốc tế mới
nhằm tìm kiếm nguồn tài nguyên mang lại sự giàu có. Để đáp ứng nhu cầu này,
nhiều học thuyết kinh tế mới và thực tiễn đã xuất hiện, trong đó có ý tưởng về
quỹ chung và rủi ro đồng loạt. Trong thời kỳ này, thương mại gặp rất nhiều rủi ro
kinh doanh làm giảm lợi nhuận của những thương gia. Nguyên nhân là do trong
cả đội tàu, một số tàu có thể bị chìm do bão tố, cạn kiệt nguồn cung cấp hoặc đội
thuỷ thủ chết vì bệnh tật, lạc đường, bị chìm do quá tải, hoặc bị mọt ăn thủng.
Những người tham gia đầu tư vào những chuyến như kể trên cảm thấy cần thiết
phải cùng nhau chia sẻ rủi ro tránh tình trạng một số nhà đầu tư mất trắng toàn bộ
chuyến hàng do một hiện tượng khá phổ biến: tàu bị mất tích. Có 2 hình thức hay
được sử dụng là:
Cách thứ nhất là Hình thức cổ phần, theo đó các chủ hàng tập hợp
lại, cùng sở hữu cổ phần của chuyến hàng. Khi tổn thất xảy ra tất cả cùng phải
gánh chịu.
Cách thứ hai là Bảo hiểm, một hệ thống theo đó chủ tàu hay chủ hàng (có
thể là một cá nhân hay một công ty) trả một số tiền mặt cho công ty bảo hiểm nếu
họ thoả thuận sẽ bồi thường khi con tàu đã nêu trên không hoàn thành một
chuyến đi cụ thể nào đó. Những công ty bảo hiểm này đã tạo lập một quỹ chung
dùng để thanh toán cho người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.
Có thể nói, bảo hiểm hàng hải là loại hình bảo hiểm lâu đời nhất. Một
trong những đơn bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà người ta tìm thấy là đơn bảo
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
4
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm cấp vào năm 1347 tại Genoa (Italia) cho tàu Santaclara đi đến quần đảo
Magioca thuộc Tây Ban Nha. Người ta cho rằng bảo hiểm hàng hải ra đời bắt đầu
từ những người cho vay nặng lãi sống ở miền Bắc Italia. Những người này
thường cho chủ tàu vay nợ với điều kiện là nếu tàu đi trót lọt thì chủ tàu phải trả
một khoản lãi rất nặng. Ngược lại, nếu tàu bị đắm, mất hết thì được xoá nợ. Lối
cho vay này gọi là vay “được ăn cả ngã về không” hay cho vay kiêm bảo hiểm.
Bảo hiểm hàng hải là bảo hiểm những rủi ro trên biển hoặc những rủi ro
trên bộ, trên sông liên quan đến hành trình đường biển, gây tổn thất cho các đối
tượng bảo hiểm chuyên chở trên biển.
Bảo hiểm sau đó phát triển sang Anh. Nước Anh là nước có nền ngoại
thương phát triển nên bảo hiểm cũng phát triển sớm và đầy đủ hơn. Ngay từ thế
kỷ 17 Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm tàu và hàng (Lloyd’s SG Form) vẫn được áp
dụng cho đến ngày nay. Ở Mỹ công ty bảo hiểm hàng hải đầu tiên là the
Insurance Company of North American, được thành lập vào năm 1792, bảo hiểm
cho các tàu (clipper) và hàng hoá chuyên chở của Mỹ.
Theo thời gian, bảo hiểm hàng hải phát triển thành một hỗn hợp các đơn
bảo hiểm tài sản mở rộng đối với các rủi ro trên đất liền (bảo hiểm hàng nội địa)
và rủi ro trên biển (bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển).
Bảo hiểm hàng hải được chia thành 3 loại chính là:
− Bảo hiểm thân tàu: Bảo hiểm thân tàu là bảo hiểm những thiệt hại vật
chất xảy ra đốí với vỏ tàu, máy móc và các thiết bị trên tàu đồng thời bảo hiểm
cước phí, các chi phí hoạt động của tàu và một phần trách nhiệm mà chủ tàu phải
chịu trong trường hợp hai tàu đâm va nhau.
− Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu: là bảo hiểm những thiệt hại
phát sinh từ trách nhiệm của chủ tàu trong quá trình sở hữu, kinh doanh khai thác
tàu biển gây ra đối với hàng hoá họ chịu trách nhiệm trông coi; tử vong hay bị
thương của hành khách, thuỷ thủ và người bốc dỡ; thiệt hại đối với đê chắn sóng,
cầu, cảng, cáp ngầm dưới biển; và gần đây nhất là cả những tổn thất gây ra do ô
nhiễm.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
− Bảo hiểm hàng hoá: được các chủ hàng sử dụng khi vận chuyển hàng
theo đường biển hoặc đường hàng không trong thương mại quốc tế.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan
Vận chuyển bằng đường biển là phương thức vận chuyển lâu đời nhất của
loài người. Mặc dù vai trò lịch sử của vận chuyển hàng hoá bằng đường biển ở
một mức độ nào đó đã suy giảm do sự ra đời của các phương tiện vận chuyển hữu
hiệu khác như ôtô hay máy bay, nhưng nó vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng do
có những ưu thế vượt trội như:
− Có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hoá như các loại hàng hoá
siêu trường, siêu trọng (nguyên liệu thô: than đá, dầu, … hoặc các phương tiện
vận tải, máy móc…) với khối lượng lớn, mà các phương tiện vận tải khác như:
đường bộ, đường hàng không… không thể đảm nhận được.
− Các tuyến vận chuyển đường biển rộng lớn nên trên một tuyến có thể tổ
chức được nhiều chuyến tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều.
− Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa trên cơ sở lợi dụng
điều kiện thiên nhiên của biển, do đó không phải đầu tư nhiều về vốn, nguyên,
vật liệu, sức lao động. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá thành
vận chuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện khác.
− Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh tế
với các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhà nước; góp phần tăng
thu ngoại tệ…
Tuy nhiên, vận chuyển đường biển cũng có một số nhược điểm cố hữu
sau:
− Vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều yếu tố rủi ro. Các rủi ro này có
thể do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kỹ thuật hay yếu tố xã hội, con người.
Do yếu tố tự nhiên: Vận chuyển bằng đường biển phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện tự nhiên. Thời tiết, khí hậu trên biển đều ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình vận chuyển bằng đường biển. Nhửng rủi ro do thiên tai bất ngờ như bão,
sóng thần, lốc… có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Yếu tố tự nhiên diễn ra không theo
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
một quy luật nhất định nào. Vì vậy, mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát
triển và có thể dự báo thời tiết, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra.
Do yếu tố kỹ thuật: Trong hoạt động của mình, con người ngày càng sử
dụng nhiều hơn các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại. Nhưng dù máy móc
hiện đại chính xác đến đâu cũng không tránh khỏi trục trặc về kỹ thuật, đó là trục
trặc của chính con tàu, kỹ thuật dự báo thời tiết, các tín hiệu điều khiển từ đất
liền… từ đó gây ra đổ vỡ, mất mát hàng hoá trong quá trình XNK.
Do yếu tố xã hội, con người: Hàng hoá có thể bị mất trộm, mất cắp, bị
cướp, hoặc bị thiệt hại do chiến tranh…
− Tốc độ của tàu biển còn chậm, hành trình trên biển có thời gian dài, nên xác
suất rủi ro tai nạn trên biển càng cao nhưng việc ứng cứu rủi ro, tai nạn rất khó
khăn.
− Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến tàu thường có giá trị rất
lớn bao gồm giá trị tàu và hàng hoá chở trên tàu. Vì vậy, nếu rủi ro xảy ra sẽ gây
tổn thất rất lớn về tài sản, trách nhiệm và con người.
− Trong quá trình vận chuyển, hàng hoá được chủ phương tiện chịu trách
nhiệm chính. Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức độ
tuỳ theo điều kiện giao hàng và vận chuyển. Từ năm 1921, Dự thảo luật có tên
Hague đã được soạn thảo nhằm điều chỉnh các hoạt động vận chuyển trên biển.
Bộ luật này chính thức được áp dụng vào năm 1924 sau khi được nhiều nước
thông qua tại Hội nghị Brussel (Bỉ) cũng trong năm này. Năm 1968, Uỷ ban
Hàng hải Quốc tế đã sửa đổi Bộ luật này và lấy tên mới là Hague -Visby. Theo
đó, trách nhiệm của người vận chuyển đối với tổn thất chỉ giới hạn ở mức 666.7
SDR một đơn vị hàng hoá, tương đương 2 SDR một kilogram hàng hoá bị mất
hoặc hư hỏng, mặc dù họ được miễn trách nhiệm trong trường hợp hiểm hoạ tự
nhiên, trộm cắp.
Trong thực tế, đòi bồi thường từ các công ty vận chuyển rất phức tạp
và tốn chi phí. Trong hầu hết các trường hợp, các các công ty này đều đến từ
nước ngoài, thậm chí từ châu lục khác, do vậy, tư vấn về luật hàng hải từ các
chuyên gia là điều cần thiết.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Tất cả những phân tích nêu trên cho thấy, bảo hiểm là rất cần thiết
cho vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.
1.1.3. Đặc điểm cơ bản của Bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng
đường biển
a) Quá trình xuất nhập khẩu (XNK) hàng hoá có nhiều bên liên quan, được
thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:
− Hợp đồng mua bán: giữa người mua và người bán trong đó thể hiện sự
chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua.
− Hợp đồng vận chuyển.
− Hợp đồng bảo hiểm.
Hai loại hợp đồng sau cùng tuỳ theo điều kiện giao hàng được áp dụng là
FOB hay CIF mà xác định các bên liên quan. Nếu sử dụng điều kiện FOB, dịch
vụ vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng hoá do người mua đảm nhận với người
vận chuyển và công ty bảo hiểm. Còn trong điều kiện CIF, các dịch vụ này sẽ do
người bán đảm nhận.
b) Hàng hoá XNK thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, chịu sự
kiểm soát của hải quan, kiểm dịch… theo quy định của từng nước và phải được
mua bảo hiểm theo tập quán thương mại quốc tế.
c) Hàng hoá XNK thường được vận chuyển bằng nhiều loại phương tiện
khác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện.
1.2. TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
1.2.1. Khái niệm chung về TBH
Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế. Đặc trưng của nó là việc thành lập
mang tính chất tập thể một quỹ dự trữ tài chính thông qua sự vận dụng các quy
luật thống kê và nguyên tắc cân đối cũng như việc phân phối mang tính chất
riêng rẽ quỹ đó để đáp ứng những nhu cầu có thể dự đoán được trong tương lai
phát sinh ra từ những sự cố bất ngờ gây thiệt hại hay xảy ra.
Như vậy khái niệm bảo hiểm chứa đựng hai yếu tố cơ bản sau:
− Tính tập thể của việc thành lập quỹ dự trữ, có nghĩa là mỗi thành viên tham
gia bảo hiểm đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định (Phí bảo hiểm). Phí
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
8

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét