Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Quyết định 01/2012/QĐ-UBND phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau 5 năm, giai đoạn 2011 - 2015 do Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành

Tổng thu ngân sách 5 năm đạt 7.600 tỷ đồng (chỉ tiêu 6.000 tỷ đồng); trong đó: năm 2010 thu
2.456 tỷ đồng (chỉ tiêu năm 2010 thu 1.600 tỷ đồng). Tỷ lệ huy động ngân sách so với GDP năm
2010 đạt 10% (so với chỉ tiêu 8,4%).
Tổng chi ngân sách 5 năm đạt 13.956 tỷ đồng; trong đó năm 2010 chi 4.168 tỷ đồng (chỉ tiêu năm
2010 chi 2.400 tỷ đồng).
Việc quản lý, điều hành thu chi ngân sách đã được thực hiện khá tốt, tích cực huy động các nguồn
thu theo đúng chính sách thuế, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu ngân sách.
Các ngân hàng hoạt động có hiệu quả, huy động vốn và tổ chức tốt các dịch vụ tín dụng phục vụ
sản xuất kinh doanh, thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư để duy trì tăng trưởng kinh tế và đảm
bảo an sinh xã hội. Tổng số dư nợ tín dụng ngân hàng năm 2010 đạt 12.434 tỷ đồng, tăng gấp
hơn 2 lần tổng dư nợ năm 2005.
8. Đầu tư phát triển
Đã huy động nhiều nguồn vốn đầu tư, cải thiện đáng kể điều kiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
của tỉnh, nhiều dự án công trình hạ tầng quan trọng đã và đang được đầu tư, phát huy hiệu quả,
tăng thêm năng lực phát triển kinh tế xã hội.
Các dự án do Trung ương đầu tư trên địa bàn tỉnh góp phần cải thiện kết cấu hạ tầng như: cụm
Khí - Điện - Đạm Cà Mau đã được đầu tư đưa vào hoạt động, gồm: đường ống dẫn khí PM3, 02
nhà máy điện với tổng công suất 1.500 MW (sản lượng điện sản xuất năm 2010 đạt 9,1 tỷ KWh,
chiếm trên 10% tổng sản lượng điện sản xuất của cả nước), nhà máy Đạm Cà Mau với công suất
800.000 tấn/năm đang xây dựng (hoàn thành cuối năm 2011); hoàn thành 06 cầu trên tuyến Quốc
lộ 1A đoạn Đầm Cùng - Năm Căn, cầu Gành Hào 2, tuyến đường Quảng Lộ - Phụng Hiệp trên địa
bàn tỉnh; đang thi công tuyến đường Hồ Chí Minh, cầu Đầm Cùng…
Hệ thống giao thông đường bộ phát triển nhanh, đã cơ bản xây dựng được hệ thống đường từ
tỉnh đến trung tâm các huyện (trừ huyện Ngọc Hiển), các cụm kinh tế ven biển. Chương trình xây
dựng đường ô tô đến trung tâm các xã được triển khai đồng bộ, nhiều tuyến đã hoàn thành, các
tuyến còn lại cũng xây dựng được nền đường. Đến cuối năm 2010 có 52/82 xã có đường ô tô đến
trung tâm xã (tỷ lệ 63%), các tuyến khác đã được triển khai, đang tập trung đầu tư xây dựng.
Phong trào xây dựng đường giao thông nông thôn được cả hệ thống chính trị và nhân dân quan
tâm, tích cực triển khai và đạt kết quả cao, khối lượng lớn đường và cầu nông thôn đã được xây
dựng, nhiều nơi đã xây dựng được đường từ xã đến ấp, liên ấp. Đặc biệt đã triển khai thực hiện
Đề án xây dựng 1.588 cây cầu giao thông nông thôn, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội ở các
vùng nông thôn phát triển, thay đổi diện mạo vùng nông thôn, được sự đồng thuận cao của nhân
dân.
Hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất ngư nông lâm nghiệp tiếp tục được đầu tư cải thiện một bước.
Hệ thống lưới điện nông thôn phát triển nhanh, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đến cuối năm 2010 đạt
94,68% (chỉ tiêu từ 90 - 95%).
Các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch, tỉnh Cà Mau có 02 khu công nghiệp (Khánh An,
Hòa Trung) và 02 cụm công nghiệp (Năm Căn, Sông Đốc) đã được thành lập với tổng diện tích
quy hoạch đến năm 2020 là 1.477 ha. Mặc dù tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng các khu, cụm công
nghiệp còn chậm, nhưng tại một số khu đã thu hút và triển khai các dự án đầu tư, nhất là khu công
nghiệp Hòa Trung, cụm công nghiệp Sông Đốc.
Kết cấu hạ tầng các ngành văn hóa - xã hội cũng được quan tâm đầu tư, nhiều công trình quan
trọng như bệnh viện đa khoa tỉnh, một số khoa các bệnh viện huyện, hệ thống trạm y tế, trường
học các cấp được xây dựng mới; một số huyện đã hình thành được trung tâm văn hóa thể thao
(thành phố Cà Mau, huyện Thới Bình).
Hệ thống đô thị được mở rộng và phát triển, đã thành lập thêm một số đơn vị chính quyền đô thị,
tỷ lệ dân số đô thị có tăng lên, hạ tầng đô thị được đầu tư chỉnh trang, nâng cấp, nhất là các đô thị
động lực của tỉnh (thành phố Cà Mau đã được công nhận là đô thị loại II trong năm 2010).
9. Phát triển các thành phần kinh tế
Các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển nhanh về số lượng và quy mô (ngoại
trừ doanh nghiệp nhà nước có sắp xếp, cổ phần hóa nên số lượng doanh nghiệp giảm xuống), có
doanh nghiệp đã đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để mở rộng quy mô hoạt động và đưa hàng hóa
bán trực tiếp ở thị trường nước ngoài.
Kinh tế nhà nước tiếp tục được sắp xếp, đổi mới theo Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt. Đến nay, tỉnh Cà Mau thực hiện sắp xếp như sau: cổ phần hóa 20 đơn vị, sáp nhập 02
doanh nghiệp sau đó tiếp tục cổ phần hóa, chuyển 8 Lâm ngư trường, giải thể 4 doanh nghiệp,
bán 01 doanh nghiệp, chuyển 4 Lâm ngư trường thành Ban Quản lý rừng phòng hộ, chuyển trực
tiếp thành Công ty TNHH một thành viên: 02 doanh nghiệp.
Kinh tế dân doanh tiếp tục phát triển nhanh, số lượng doanh nghiệp thành lập mới ngày càng
nhiều. Đến cuối năm 2010, tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là 3.740 doanh nghiệp với tổng
vốn đăng ký 11.407 tỷ đồng, bình quân vốn đăng ký 3 tỷ đồng/doanh nghiệp. Đồng thời cũng đã
thu hút đầu tư 98 dự án với tổng vốn đầu tư 38.089 tỷ đồng.
Kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn thấp, đến nay tỉnh Cà Mau mới thu hút được
04 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký 7,125 triệu USD, nhưng chỉ mới có 02 dự án triển khai.
Kinh tế tập thể còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế, toàn tỉnh hiện có 161 hợp tác xã với 3.459
xã viên và 3.263 tổ hợp tác với 79.591 thành viên và 02 Quỹ tín dụng nhân dân. Hoạt động của
hợp tác xã và tổ hợp tác chủ yếu trong lĩnh vực thủy sản, nông nghiệp, vận tải, xây dựng, tiểu thủ
công nghiệp, thương mại dịch vụ.
II. VỀ VĂN HÓA - XÃ HỘI - MÔI TRƯỜNG
1. Khoa học và Công nghệ.
Đầu tư và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, nhất là công nghệ sinh học
có nhiều tiến bộ. Một số đề tài, dự án nghiên cứu trên các lĩnh vực được ứng dụng vào thực tiễn,
phát huy hiệu quả; nhiều mô hình sản xuất ngư - nông nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học, bền
vững, hiệu quả cao được phổ biến thông qua công tác tập huấn cho nông dân, góp phần nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất. Ý thức của doanh nghiệp và người dân đầu tư
đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất được nâng cao.
Công tác tư vấn về sở hữu trí tuệ có chuyển biến tích cực, người dân và doanh nghiệp ngày càng
có ý thức về quyền lợi của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước ngày càng có hiệu quả.
2. Giáo dục và Đào tạo
Quy mô các cấp học, ngành học được mở rộng, chất lượng, hiệu quả giáo dục được nâng lên.
Giáo dục chuyên nghiệp và đào tạo, bồi dưỡng nghề phát triển khá. Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục
- đào tạo, hoạt động khuyến học và phong trào toàn dân học tập phát triển.
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp học, bậc học được tăng cường cả về số
lượng và chất lượng, đa số giáo viên các cấp đều đạt chuẩn quy định.
Chất lượng, hiệu quả giáo dục - đào tạo chuyển biến tích cực ở tất cả các bậc học, cấp học (kết
quả đã phổ cập giáo dục Trung học cơ sở, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và xóa mù chữ,
tỷ lệ lưu ban, bỏ học giảm, hiệu quả giáo dục được nâng lên).
Cơ sở vật chất và các điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục được quan tâm, công tác xây dựng
trường học đạt chuẩn quốc gia được chú trọng và triển khai tích cực, đến cuối năm 2010 trên địa
bàn tỉnh đã công nhận 50 trường học đạt chuẩn quốc gia (bao gồm: 09 trường mầm non, 32
trường tiểu học và 09 trường THCS), bằng 10% tổng số trường học trong tỉnh.
3. Y tế
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được
đầu tư phát triển, cơ bản đã hoàn thành Đề án đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; chất lượng khám
chữa bệnh được nâng lên. Đội ngũ y bác sỹ tăng về số lượng, nâng cao về trình độ; số bác sỹ
được đào tạo sau đại học tăng nhanh; đến cuối năm 2010 bình quân có 6,2 bác sỹ, dược sỹ đại
học/1 vạn dân (chỉ tiêu 6,8), trên 90% trạm y tế xã, phường, thị trấn có bác sỹ phục vụ; tỷ lệ trẻ em
dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 17,2% (chỉ tiêu 16%).
Ngành Y tế đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng
cao chất lượng chẩn đoán, điều trị; mạng lưới y tế được đầu tư củng cố từ các nguồn vốn, đặc
biệt là vốn xổ số kiến thiết và vốn trái phiếu Chính phủ. Tiến độ đầu tư xây dựng Trạm y tế xã đạt
chuẩn quốc gia và xây dựng các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện được đẩy nhanh.
Công tác y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm được phối hợp chỉ đạo,
triển khai các biện pháp dự phòng tích cực, không để dịch bệnh và các vụ ngộ độc lớn xảy ra; kịp
thời khống chế, đẩy lùi và hạn chế một số dịch bệnh nguy hiểm nên hầu hết các bệnh truyền
nhiễm và bệnh dịch lây quan trọng giảm so cùng kỳ, riêng bệnh sốt xuất huyết và các bệnh đường
hô hấp tăng so cùng kỳ nhưng không đáng kể.
Chủ trương xã hội hóa đầu tư phát triển lĩnh vực y tế có chuyển biến tốt; công tác quản lý hành
nghề y dược tư nhân được tăng cường.
4. Văn hóa, Thể thao
Các lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật, thể dục, thể thao, thông tin, báo chí, xuất bản được
tăng cường, tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội.
Các hoạt động văn hóa thông tin và thể thao ngày càng đa dạng hơn, góp phần xây dựng đời sống
văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Các thiết chế văn hóa thể thao trên địa bàn
tỉnh được đầu tư xây dựng, nâng cấp như: thư viện tỉnh, sân vận động, một số trung tâm văn hóa
thể thao cấp huyện, cấp xã…
Công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở tiếp tục được đẩy mạnh, phong trào “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” đã triển khai rộng khắp. Đến cuối năm 2010 có 83% gia
đình, 83,3% khóm ấp, 45,5% xã phường thị trấn đạt chuẩn văn hóa.
5. Lao động, Thương binh và Xã hội
Chính sách dân số, gia đình và trẻ em được các cấp ủy đảng, chính quyền tập trung chỉ đạo thực
hiện, đạt kết quả tốt trên nhiều mặt; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên liên lục giảm, năm 2010 giảm còn
1,24% (chỉ tiêu đến năm 2010 giảm còn dưới 1,3%).
Chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội đạt kết quả khá cao. Số lao
động được giải quyết việc làm bình quân hàng năm đạt từ 29 - 30 nghìn người (chỉ tiêu 26.000
người). Tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giảm trên 2%, năm 2010 giảm còn 6,5% theo chuẩn
nghèo giai đoạn 2006 - 2010 (chỉ tiêu dưới 10%).
Các chính sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước như: hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt, đất
ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc được thực hiện khá tốt. Cơ bản hoàn thành chương trình
xóa nhà tạm, nhà dột nát và hỗ trợ xây cất nhà ở cho hộ nghèo; tiếp tục thực hiện chương trình hỗ
trợ nhà ở cho người có thu nhập thấp.
Công tác đền ơn đáp nghĩa đối với người có công được toàn xã hội quan tâm, các đối tượng
chính sách được chăm sóc tốt hơn; đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện.
Công tác bình đẳng giới có nhiều tiến bộ, vai trò và vị thế người phụ nữ ngày càng được nâng cao;
tỷ lệ gia đình có nữ làm chủ hộ, cán bộ nữ trong đảng ủy, chính quyền các cấp tăng lên.
6. Thông tin và Truyền thông
Mạng viễn thông, internet tiếp tục phát triển, đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin của các tầng lớp
nhân dân. Mạng viễn thông hiện có 849 trạm thu phát sóng thông tin di động, tổng số thuê bao
điện thoại đến cuối năm 2010 đạt 1.141.967 máy (trong đó: có 209.967 thuê bao điện thoại cố định
và 932.000 thuê bao điện thoại di động), đạt mật độ 94 máy/100 người dân.
Tổng số thuê bao Internet đạt 21.385 thuê bao, trong đó thuê bao băng rộng ADSL 21.052 thuê
bao.
7. Quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên
Chương trình phát triển bền vững của tỉnh đã được xây dựng, là định hướng cho các quy hoạch,
kế hoạch phát triển của tỉnh. Các quy hoạch, kế hoạch phát triển đều quan tâm kết hợp đồng bộ
các yếu tố về kinh tế - xã hội - môi trường.
Các nguồn tài nguyên quan trọng đã được tổ chức điều tra, đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ, khai
thác hợp lý và có hiệu quả.
Công tác tìm kiếm cứu nạn, phòng tránh bão lụt, giảm nhẹ thiên tai, chống sạt lở được tăng cường
và chủ động hơn.
III. VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH, TÔN GIÁO, CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1. Quốc phòng, an ninh.
Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh trong những năm qua luôn ổn định; công tác quốc
phòng, quân sự địa phương được các cấp, các ngành triển khai thực hiện tốt; tuyển quân hàng
năm đạt 100% chỉ tiêu.
Các lực lượng vũ trang được tăng cường nhận thức về xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; luôn duy trì ca,
kíp trực sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống; thường xuyên theo dõi nắm tình hình và tuần
tra, canh gác bảo vệ an toàn tuyệt đối các khu vực đóng quân, những vị trí trọng yếu, các ngày lễ,
tết; hệ thống thông tin liên lạc thông suốt, đảm bảo ngăn chặn, xử lý kịp thời, hiệu quả các vụ việc
xảy ra trên địa bàn tỉnh.
2. Trật tự an toàn xã hội
Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm được triển khai thực hiện tích cực. Các lực lượng vũ
trang đã phối hợp triển khai nhiều kế hoạch, phương án đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Thường xuyên nắm tình hình, phối hợp giải quyết các vụ tranh chấp khiếu kiện. Tăng cường các
biện pháp phòng ngừa, đấu tranh trấn áp các loại tội phạm theo tuyến, địa bàn, đối tượng; trấn áp
các loại tội phạm hình sự. Tăng cường lực lượng điều tra, xử lý các băng nhóm tội phạm về tệ nạn
xã hội, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
3. Công tác Tôn giáo
Tổ chức có hiệu quả các quy định của nhà nước về hoạt động tôn giáo, thường xuyên chỉ đạo các
địa phương thực hiện tốt các nội dung yêu cầu của tôn giáo như: sinh hoạt điểm nhóm ngoài cơ
sở thờ tự, thuyên chuyển chức sắc trong địa bàn huyện, thực hiện công tác từ thiện, các lễ nghi
ngoài chương trình đăng ký hàng năm và các hoạt động tôn giáo phát sinh trong năm. Giải quyết
phù hợp các vấn đề có liên quan đến hoạt động tôn giáo, đấu tranh có hiệu quả với các thế lực lợi
dụng tôn giáo để chống phá sự ổn định chính trị, xã hội, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại,
tố cáo có liên quan đến công tác tôn giáo.
4. Công tác cải cách hành chính
Tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông trên địa bàn tỉnh. Đến cuối
năm 2010, toàn tỉnh đã có 18/18 đơn vị cấp tỉnh, 09/09 đơn vị cấp huyện và 101/101 đơn vị cấp xã
thực hiện cơ chế một cửa (trong đó có 08/18 đơn vị cấp sở đã thực hiện liên thông trên một số lĩnh
vực), đồng thời tổ chức thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo kết quả của Đề án 30
đối với tất cả các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện Đề án 30 của Chính phủ: tỉnh Cà Mau đã rà soát các thủ tục hành chính, kết quả kiến
nghị giữ nguyên 88 thủ tục, kiến nghị sửa đổi, bổ sung 1.302 thủ tục, thay thế toàn bộ 16 thủ tục
và bãi bỏ 116 thủ tục, đạt tỷ lệ đơn giản hóa trên 94%.
Tiếp tục củng cố vai trò, tính hiệu quả của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn ISO 9001:2008 đối với các cơ quan nhà nước. Đến cuối năm 2010, có 11/18 đơn vị cấp
tỉnh, 6/9 huyện, thành phố đã được cấp giấy chứng nhận ISO, còn lại các sở, ngành cấp tỉnh và
các huyện đang xây dựng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008.
ĐÁNH GIÁ CHUNG
I. Những kết quả đạt được
1. Tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong 5 năm (2006 - 2010), đã góp phần tăng tiềm lực cho
nền kinh tế, quy mô của nền kinh tế ngày càng lớn, đóng góp vào sự phát triển chung của khu vực
đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Mặc dù trải qua những thời điểm rất khó khăn do những
tác động bên ngoài và cả những khó khăn bên trong nhưng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng hàng
năm trên 02 con số (bình quân tăng 13,5%/năm), đời sống nhân dân được nâng cao.
2. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch đúng hướng; thế mạnh và lợi thế so sánh của tỉnh đang
khai thác có hiệu quả. Các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có những bước tiến đáng kể,
vai trò và vị thế của các ngành công nghiệp, dịch vụ đã được khẳng định, phù hợp với xu thế phát
triển chung.
3. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư ngày càng nhiều, là động lực thúc đẩy
nền kinh tế phát triển. Đời sống nông thôn ngày càng khởi sắc, khoảng cách phát triển giữa thành
thị và nông thôn đã được rút ngắn dần.
4. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục ổn định và được giữ vững, đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện.
II. Những tồn tại, yếu kém
1. Kinh tế tăng trưởng cao nhưng chưa bền vững. Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm còn
thấp. Năng suất lao động xã hội, năng suất cây trồng, vật nuôi thấp so với bình quân của vùng.
2. Khả năng hấp thụ vốn đầu tư còn hạn chế, một số dự án hạ tầng triển khai chậm, khá nhiều dự
án đầu tư đã được cấp giấy phép đầu tư nhưng chưa triển khai hoặc thực hiện kéo dài; tiến độ
xây dựng các khu, cụm công nghiệp chậm, giải pháp thu hút đầu tư chưa cụ thể làm hạn chế thu
hút đầu tư. Công tác xúc tiến, lựa chọn nhà đầu tư còn hạn chế, chưa thật sự thu hút được những
nhà đầu tư lớn có nguồn lực mạnh.
3. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư cải thiện khá nhiều, song chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển, nhất là ở nông thôn, mức độ đạt được so với yêu cầu của Bộ tiêu chí xây dựng nông
thôn mới còn thấp.
4. Chất lượng, hiệu quả giáo dục - đào tạo - dạy nghề còn thấp, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa
hợp lý. Ứng dụng khoa học - công nghệ vào đời sống chưa cao. Chất lượng xây dựng đời sống
văn hóa còn thấp; các trung tâm sinh hoạt văn hóa - thể thao, công trình di tích lịch sử chậm được
đầu tư; quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa còn lỏng lẻo. Cơ cấu và chất lượng lao động chưa
theo kịp yêu cầu phát triển. Nguy cơ tái nghèo cao, còn một bộ phận chưa nỗ lực phấn đấu thoát
nghèo. Chương trình nhà ở xã hội triển khai thực hiện chậm. Khả năng kiểm soát, xử lý ô nhiễm
môi trường còn yếu.
Phần thứ hai.
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH CÀ MAU 5 NĂM, GIAI
ĐOẠN 2011 - 2015
I. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH 5 NĂM 2011 - 2015
1. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát
triển, huy động mọi nguồn lực của xã hội để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông
thôn mới; phấn đấu sớm đưa Cà Mau trở thành tỉnh phát triển trung bình khá của cả nước, hình
thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, góp phần cùng cả nước ổn định kinh tế
vĩ mô, kiềm chế lạm phát, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo an sinh
xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu
- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) giá so sánh (1994) năm 2015 đạt khoảng 27.600 tỷ đồng, tốc độ
tăng trưởng kinh tế bình quân 13,5%/năm. Trong đó: khu vực ngư - nông - lâm nghiệp tăng 6,2%,
công nghiệp - xây dựng tăng 16,3%, dịch vụ tăng 17%.
- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) giá hiện hành năm 2015 đạt khoảng 60.000 tỷ đồng.
- GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 46,8 triệu đồng (tương đương khoảng 2.150
USD).
- Cơ cấu kinh tế:
+ Công nghiệp - xây dựng: 42%;
+ Ngư - nông - lâm nghiệp: 30%;
+ Dịch vụ: 28%.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 38,5% GDP/năm.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt từ 05 tỷ USD trở lên.
- Tổng thu ngân sách 5 năm khoảng 17.000 tỷ đồng.
- Tổng chi ngân sách 5 năm khoảng 25.000 tỷ đồng.
- Sản lượng lúa năm 2015 đạt 600.000 tấn.
- Sản lượng thủy sản năm 2015 đạt 450.000 tấn; trong đó sản lượng tôm đạt 180.000 tấn.
- Diện tích nuôi tôm công nghiệp đến năm 2015 đạt 10.000 ha.
- Đến năm 2015 xây dựng 22 xã đạt tiêu chí nông thôn mới và ít nhất 30 xã đạt 12/19 tiêu chí xã
nông thôn mới.
- Tỷ lệ huyện, thành phố hình thành được Trung tâm Văn hóa - Thể thao năm 2015: 100%.
- Tỷ lệ đơn vị cấp xã hình thành được Trung tâm Văn hóa - Thể thao năm 2015: 85%
- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2015 đạt 70%.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm.
- Trong 5 năm tạo việc làm cho khoảng 166.000 người.
- Dạy nghề, bồi dưỡng và truyền nghề trong 5 năm đạt khoảng 173.000 người.
- Năm 2015, tỷ lệ lao động xã hội qua đào tạo, dạy nghề đạt 60%
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2015 giảm còn 14%.
- Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện năm 2015 từ 97% trở lên.
- Diện tích nhà ở bình quân đầu người năm 2015 là 17m
2
/người.
- Diện tích có rừng tập trung năm 2015: 105.000 ha. Trồng rừng mới trong 5 năm đạt 2.500 ha.
- Tỷ lệ che phủ của rừng và cây phân tán năm 2015 đạt 24%.
- Tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đến năm 2015 ở thành thị đạt 100%, ở
nông thôn đạt 90%.
- Tỷ lệ chất thải rắn các khu công nghiệp và đô thị được thu gom, xử lý đúng quy định năm 2015
đạt 99%.
- Tỷ lệ chất thải rắn y tế được thu gom, xử lý đúng quy định năm 2015 đạt 100%.
II. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Sản xuất ngư, nông, lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới
- Thủy sản: phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, năng suất và hiệu quả; từng
bước hình thành những vùng nuôi tập trung áp dụng công nghệ tiên tiến, nhằm kiểm soát và xử lý
kịp thời dịch bệnh tôm, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái, tăng
nguồn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến và đáp ứng yêu cầu của các nhà nhập
khẩu.
Mở rộng và phát triển diện tích nuôi tôm công nghiệp, triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ
nuôi tôm công nghiệp (lưới điện, thủy lợi, giao thông…), triển khai thực hiện cơ chế phát triển Cụm
nuôi tôm công nghiệp để khuyến khích người dân phát triển diện tích nuôi tôm công nghiệp theo
quy hoạch. Đến cuối năm 2015 phấn đấu diện tích nuôi tôm công nghiệp đạt 10.000 ha.
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong
sản xuất tôm, lúa tỉnh Cà Mau giai đoạn 2009 - 2012 và định hướng đến năm 2015; từng bước tạo
được bước chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng trong sản xuất tôm, lúa.
Triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm đối với nuôi trồng thủy sản theo Quyết định số 315/QĐ-TTg
ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Phát triển khai thác xa bờ hợp lý, chuyển dịch nhanh cơ cấu nghề khai thác ven bờ theo hướng ổn
định sản lượng khai thác đánh bắt, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, chuyển sang nuôi trồng thủy sản
hoặc du lịch, dịch vụ… Tuyên truyền, vận động các chủ phương tiện không vi phạm vùng lãnh hải
các nước khi khai thác thủy sản. Hình thành mô hình liên kết và cung cấp dịch vụ hậu cần trong
khai thác biển.
Đến năm 2015, phấn đấu sản lượng thủy sản đạt 450.000 tấn, trong đó sản lượng tôm đạt
180.000 tấn.
- Nông nghiệp: tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân
trong việc áp dụng và nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả như: mô hình chuyên canh lúa,
mô hình sản xuất đa cây, đa con. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật về giống; phối hợp với các Viện, Trường nghiên cứu khảo nghiệm giống lúa mới
thích nghi với điều kiện đất đai từng vùng.
Sản xuất, cung ứng giống lúa cấp nguyên chủng tại chỗ cho các điểm vệ tinh sản xuất nhân lúa
giống cấp xác nhận, để đưa ra sản xuất đại trà. Phấn đấu sản lượng lúa năm 2015 đạt 600.000
tấn.
Phát triển sản phẩm chăn nuôi đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho thị trường trong tỉnh. Xây dựng
các lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung theo đúng quy hoạch. Tăng cường công tác tập huấn,
hướng dẫn cho nông dân áp dụng quy trình kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học, nâng cao nhận
thức để thay đổi tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi theo hướng tập trung. Đến năm 2015,
đàn heo đạt khoảng 300.000 con, đàn gia cầm khoảng 2,4 triệu con.
Thực hiện tốt mối liên kết 4 Nhà (Nhà nông, Nhà doanh nghiệp, Nhà khoa học và Nhà nước) nhằm
hỗ trợ, hướng dẫn người dân trong đầu tư sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
- Lâm nghiệp:
Tiếp tục thực hiện Đề án tổ chức lại sản xuất và bố trí lại dân cư khu vực rừng tràm và các khu
dân cư ven biển. Huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao đời sống
nhân dân trong lâm phần và các vùng ven biển khó khăn, chuẩn bị các điều kiện để xây dựng các
khu dân cư kiểu mẫu mang đặc trưng của vùng nông thôn mới ở các khu vực này.
Tăng cường sự phối hợp chỉ đạo giữa các đơn vị chủ rừng với chính quyền xã, huyện, tạo sự
đồng thuận giữa ngành và địa phương trong việc thực hiện công tác trồng rừng, nhất là chỉ đạo
san lấp kênh, bờ để tạo mặt bằng trồng rừng ở khu vực rừng ngập mặn.
Phát triển trồng cây phân tán trong nhân dân, nhất là tại các vùng nuôi thủy sản, vùng ven biển,
ven các trục đường giao thông, đảm bảo trồng lại rừng sau khai thác theo quy định. Nâng tỷ lệ độ
che phủ rừng và cây phân tán đạt 24% diện tích tự nhiên.
- Xây dựng Nông thôn mới:
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới, tăng cường công tác vận động, tuyên truyền cho nhân
dân nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm tham gia xây dựng nông thôn mới; lồng ghép các nguồn
vốn, ưu tiên đầu tư hạ tầng 22 xã được lựa chọn hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới
vào năm 2015 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XIV.
Phấn đấu đến năm 2015 có 22 xã đạt tiêu chí nông thôn mới; ít nhất 30 xã, đạt 12/19 tiêu chí xã
nông thôn mới.
2. Công nghiệp - Xây dựng
2.1. Công nghiệp:
Đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, tăng dần các sản phẩm tinh chế, có hàm lượng giá trị gia
tăng cao. Khuyến khích các doanh nghiệp chế biến thủy sản đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ
nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm (ngoài con tôm) và nâng cao
khả năng cạnh tranh trên thị trường trong lĩnh vực chế biến. Từng bước thu hút, phát triển các
ngành công nghiệp: xử lý khí hóa lỏng, hóa chất, dệt may, gia công lắp ráp hàng điện tử… Huy
động tối đa công suất hoạt động của cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau (02 nhà máy điện và nhà máy
đạm).
Khôi phục và phát triển một số nghề truyền thống, sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ, phục vụ
tiêu dùng và xuất khẩu, tạo điều kiện phát triển các làng nghề, ngành nghề mới ở nông thôn để sử
dụng các nguồn nguyên liệu tại chỗ và giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của người dân.
Triển khai đầu tư hạ tầng Khu kinh tế Năm Căn; đôn đốc các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ khai
thác đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp Khánh An, Hòa Trung, Sông Đốc. Đồng thời, đẩy mạnh
xúc tiến đầu tư, thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước phù hợp với ngành, nghề, lĩnh vực
đầu tư đã được quy hoạch; việc lựa chọn các dự án đầu tư mới và cấp phép phải ưu tiên đầu tư
vào khu kinh tế và các khu, cụm công nghiệp.
Tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống lưới điện nông thôn, đồng thời tiến hành đầu tư lưới điện phục
vụ các khu nuôi tôm công nghiệp tập trung. Phấn đấu cuối năm 2015 có trên 97% số hộ dân được
sử dụng điện.
2.2. Xây dựng:
Đẩy mạnh công tác lập quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Tập trung
đầu tư phát triển hạ tầng các đô thị động lực của tỉnh, trong đó đầu tư hoàn thiện các tiêu chí đô
thị loại II đối với thành phố Cà Mau; trong giai đoạn 2011 - 2015 nâng cấp thị trấn Năm Căn và thị
trấn Sông Đốc đạt tiêu chí đô thị loại IV.
Thực hiện tốt quy chế quản lý đầu tư và quy trình kỹ thuật trong xây dựng công trình, đảm bảo
chất lượng công trình, chống thất thoát lãng phí. Phát triển và nâng cao các dịch vụ tư vấn về quy
hoạch, tư vấn đầu tư, giám sát công trình, thẩm định giá, hình thành và đi vào hoạt động sàn giao
dịch bất động sản.
Đến năm 2015, phấn đấu diện tích nhà ở bình quân đầu người đạt 17 m
2
/người. Tỷ lệ nhà ở kiên
cố là 35%, nhà ở tạm bợ và đơn sơ giảm còn 30%.
Hoàn thành xây dựng Khu đô thị Trung tâm Hành chính - Chính trị tỉnh Cà Mau, Khu hành chính và
công trình công cộng cửa ngõ Đông Bắc, thành phố Cà Mau và một số khu đô thị mới. Hình thành
1 khu đô thị (hoặc 1 khu dân cư) văn minh, hiện đại thí điểm trên địa bàn thành phố Cà Mau.
3. Dịch vụ
Phát triển nhanh các ngành dịch vụ, tập trung ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ như: thương
mại, du lịch sinh thái, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính, viễn thông, tư vấn… Khuyến khích phát
triển mạng lưới bán buôn, bán lẻ, đưa hàng hóa về các vùng nông thôn kết hợp công tác kiểm
soát, bình ổn giá thị trường.
Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng
cao; tăng sản phẩm chế biến có hàm lượng công nghệ cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô.
Phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt từ 05 tỷ USD trở lên.
Sắp xếp lại mạng lưới bán buôn, bán lẻ, phát triển hệ thống chợ nông thôn tại các xã chưa có chợ.
Thu hút các tập đoàn bán buôn, bán lẻ trong và ngoài nước xây dựng và phát triển hệ thống kết
cấu hạ tầng thương mại hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị…) trên địa bàn tỉnh nhằm tạo tính
cạnh tranh, phát triển nhanh các ngành dịch vụ có liên quan, cung cấp hàng hóa có chất lượng, giá
cả phù hợp đến với người dân.
Thu hút, khuyến khích đầu tư xây dựng một số khu du lịch mang tầm quốc gia để tạo điểm nhấn
thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế (như khu du lịch Đất Mũi, Hòn Đá Bạc, các Vườn
Quốc gia); nâng cấp, bảo tồn các vườn chim, đầu tư xây dựng khu vui chơi giải trí tổng hợp, cơ sở
lưu trú, đa dạng hóa các loại hình và sản phẩm du lịch. Đầu tư xây dựng khu dịch vụ kinh tế biển
tổng hợp tại Sông Đốc.
4. Đầu tư phát triển
Khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài tham gia phát
triển kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, các công trình giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, môi
trường nhằm giảm bớt áp lực cho nguồn vốn ngân sách nhà nước; thực hiện theo nhiều hình thức
như: BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao), BT (xây dựng - chuyển giao), PPP (hợp tác nhà
nước - tư nhân).
Trong giai đoạn 2011 - 2015 hoàn thành đưa vào sử dụng các dự án, công trình quy mô lớn như:
nhà máy Đạm Cà Mau, nhà máy xử lý khí hóa lỏng, nhà máy sản xuất Glyphotsat, tuyến đường
Quản Lộ - Phụng Hiệp, đường Hồ Chí Minh (đoạn Năm Căn - Đất Mũi), nâng cấp mở rộng Quốc lộ
63, tuyến đường Hành lang ven biển phía Nam…; nâng cấp, mở rộng các tuyến đường tỉnh như:
Tắc Thủ - U Minh, U Minh - Khánh Hội, Tắc Thủ - Đá Bạc, tuyến đường bờ Nam sông Ông Đốc
đấu nối vào quốc lộ 1A (Rau Dừa - Rạch Ráng); tập trung hoàn thành các tuyến đường ô tô về
trung tâm xã, hoàn thành 2.000 km đường giao thông nông thôn; các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện.
5. Khoa học và Công nghệ
Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, chuyển mạnh hoạt động sự nghiệp
khoa học và công nghệ sang cơ chế cung ứng dịch vụ phù hợp với kinh tế thị trường, mở rộng sự
tham gia của mọi thành phần kinh tế vào các dịch vụ khoa học công nghệ.
Từng bước xây dựng và phát triển thị trường công nghệ, hạn chế triển khai các đề tài nghiên cứu
lý luận, nghiên cứu cơ bản, tập trung đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng chuyển giao công nghệ để
đáp ứng ngày càng thiết thực và hiệu quả hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Phát triển mạnh hơn các dịch vụ khoa học và công nghệ nhằm nâng cao trình độ công nghệ của
các ngành kinh tế, hợp lý hóa sản xuất, tăng cường quản lý chất lượng, môi trường của các doanh
nghiệp, các cơ quan quản lý.
Đẩy mạnh triển khai Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng
hóa của doanh nghiệp”.
6. Giáo dục và Đào tạo
Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học. Duy trì
kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở,
phát triển quy mô giáo dục trung học phổ thông, phát triển giáo dục chuyên nghiệp và đào tạo
nghề; xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thực hiện kết
hợp đào tạo cán bộ kỹ thuật trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi với đào tạo công nhân kỹ thuật, thợ
lành nghề. Củng cố phát triển các trường cao đẳng, chuyên nghiệp, thành lập Trường Đại học Cà
Mau.
Phát triển nhanh giáo dục mầm non, ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở các vùng dân cư có
điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc Khmer, vừa nuôi dạy trẻ ở trường, vừa
nuôi dạy trẻ ở nhà để giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng tới mức thấp nhất. Triển khai thực hiện Đề
án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 - 2015.
Tiếp tục thực hiện các biện pháp đồng bộ, đủ mạnh để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông,
giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, lưu ban, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục văn hóa và đạo đức, thực hiện
tốt giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bậc trung học phổ thông.
Tăng cường cơ sở vật chất, thực hiện đầu tư xây dựng hệ thống trường học các cấp theo quy
hoạch để tăng nhanh tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia. Phát triển nhanh giáo dục chuyên nghiệp và
đào tạo nghề, thực hiện đào tạo theo hướng liên thông, mở ra nhiều cơ hội học tập khác nhau cho
mọi người. Củng cố trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề ở các huyện, xây dựng
trường dạy nghề chất lượng cao. Phấn đấu đến cuối năm 2015 có 70% trường học đạt chuẩn
quốc gia.
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa về giáo dục đào tạo, trước hết cần tuyên truyền sâu rộng trong
nhân dân nhằm nâng cao nhận thức xã hội về tầm quan trọng của giáo dục, đảm bảo quyền lợi
học tập cho mọi người. Tiếp tục động viên sự tham gia của quần chúng nhân dân trong việc đóng
góp tiền của, công sức, đất đai để xây dựng trường học; từng bước phát triển hệ trường tư thục
để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách. Phát huy sự đóng góp của các tổ chức đoàn thể, các hội
khuyến học, hội cựu giáo chức cho phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo của địa phương.
7. Y tế
Xây dựng mạng lưới y tế từng bước hiện đại để mọi người dân đều được cung cấp các dịch vụ y
tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế chất lượng nhằm nâng cao thể chất,
sức khỏe và tuổi thọ nhân dân. Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn
dưới 14%.
Đẩy mạnh đầu tư phát triển mạng lưới y tế dự phòng tuyến tỉnh, tuyến huyện nhằm chủ động
phòng chống dịch, không để xảy ra dịch lớn; tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia
về y tế.
Đầu tư trang thiết bị y tế cho các bệnh viện, đáp ứng yêu cầu chẩn đoán và điều trị, tiếp cận ứng
dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các bệnh viện, trước hết là các bệnh
viện tuyến tỉnh, từng bước nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh. Phấn đấu đến năm 2015,
bình quân số giường bệnh/1 vạn dân đạt 24 giường.
Tăng cường công tác đào tạo cán bộ y tế, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo của Trường
Cao đẳng Y tế, đồng thời cử đi đào tạo trong và ngoài nước, phấn đấu đến năm 2015 có 7,5 bác
sỹ, dược sỹ đại học/1 vạn dân. Tăng cường bác sỹ cho tuyến xã, đảm bảo 100% số trạm y tế xã
có bác sỹ phục vụ.
Thực hiện Đông - Tây y kết hợp, khuyến khích phát triển các phòng thuốc Đông y, khuyến khích và
hướng dẫn nhân dân trồng và sử dụng cây thuốc nam. Tăng cường kết hợp quân dân y trong
công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và các lực lượng vũ trang.
Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, vận động từng
bước tăng số lượng người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.
Hướng dẫn nhân dân cách tự phòng tránh bệnh, tai nạn lao động, nhất là phòng chống các bệnh
truyền nhiễm. Khuyến khích phát triển gắn liền với quản lý chặt chẽ hành nghề y dược tư nhân,
thu hút đầu tư thành lập bệnh viện tư nhân và trung tâm chẩn đoán điều trị y học kỹ thuật cao, mở
rộng các hình thức chăm sóc sức khỏe tại nhà.
8. Văn hóa, Thể thao
- Văn hóa: từng bước đầu tư đồng bộ các thiết chế văn hóa, trong đó ưu tiên đầu tư các thiết chế
phục vụ cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Tăng cường phát triển các hoạt động thông tin đại
chúng, nòng cốt là đài phát thanh, truyền hình, phát hành báo chí. Bảo tồn và phát huy giá trị văn
hóa vật thể, phi vật thể, phổ biến các loại hình văn hóa nghệ thuật, xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh, chống tệ nạn xã hội.
Tập trung thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”;
xây dựng gia đình, ấp khóm, xã phường thị trấn và huyện thành phố văn hóa. Trong quá trình xét
công nhận đạt chuẩn văn hóa chú ý đảm bảo về chất lượng, thực hiện công nhận hộ gia đình, đơn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét