định . Bởi vì sức lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư cách là
hàng hoá khi nó được đưa ta thị trường tức là bản thân người có sức lao
động đó đem bán nó. Muốn vậy người lao động phải đựoc tự do về thân thể
có quyến sở hữu sức lao động của mình thì mới đem bán sức lao động
được. Người sở hữu sức lao động chỉ nên bán sức lao động trong một thời
gian nhất định thôi nếu bán hẳn sức lao động đó trong một lần thì người đó
sẽ trở thành nô lệ.
Thứ hai: Người lao động phải bị tước hết tư liệu sản xuất,muốn sống họ
phải bán sức lao động của mình. Vì nếu người lao động được tự do về thân
thể mà lại có tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hoá và bán hàng
hoá do mình sant xuất ra chứ không bán sức lao động.
Khi sức lao động trở thành hàng hoá,nó cũng xó hai thuộc tính là giá
trị và giá trị sử dụng nhưng nó là hàng hoá đặc biệt vì vậy, giá trị và giá trị
sử dụng của nó có những nét đặc thù so với những hàng hoá khác.
b. Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động:
Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá
trị.
*Giá trị của hàng hoá sức lao động:
Giá trị hàng hoá sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để
sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định. Mà sức lao động lại gắn
liền với cơ thể sống. Do đó việc sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động
cũng bao hàm việc duy trì cuộc sống của con người đó.Muốn duy trì cuộc
sống của bản thân mình, con người cần có một số tư liệu sinh hoạt nhất
định. Mặt khác số lượng của những nhu cầu cần thiết ấy, cũng như phương
thức thoả mãn những nhu cầu đó ở mỗi một người, nhóm người lao động
lại khác nhau,do các yếu tố lịch sử, tinh thần, nên giá trị của sức lao động
còn mang tính tinh thần, thể chất lịch sử. Nhưng những người sở hữu sức
lao động có thể chết đi do vậy muốn cho người ấy không ngừng xuất hiện
trên thị trường hàng hoá sức lao động thì người bán sức lao động ấy phải
trở nên vĩnh cửu bằng cách sinh xon đẻ cái. Vì vậy tổng số những tư liệu
sinh hoạt cho những người thay thế đó tức là con cái của những người lao
động. Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vất chất và tinh thần cần thiết để tái
sản xuất sức lao động,duy trì đời sống công nhân.Muốn cho mgười lao
động có kiến thức và sức lao động vận dụng khoa học trong một ngành lao
động nhất định thì cần phải tốn nhiều hay ít chi phí đào tạo.
*Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động:
Nó cũng giống như các hàng hoá thông thường khác ở chỗ là nó cũng
phải thoả mãn nhu cầu nào đó của người mua. Còn khác ở chỗ các hàng
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
5
hoá thông thường qua tiêu dùng thì giảm dần còn sức lao động qua tiêu
dùng tức là qua lao động thì nó tạo ra lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản
thân nó do người công nhân theo thời gian đã tích luỹ được kinh nghiệm
sản xuất. Và phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Đến
đây ta đã hiểu được mâu thuẫn công thức chung của tư bản là cùng lưu
thông và không cùng với lưu thông từ đó ta thấy khi sức lao động trở thành
hàng hóa,tiền tệ thành tư bản.
II. Sản xuất ra giá trị thặng dư.
Khi người có sức lao động đem bán sức lao động thì người mua sẽ tiêu
dùng sức lao động của họ bằng cách bắt người bán đó phải lao động. Mà
giá trị sử dụng của sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng
sức lao động tức là quá trình lao động và trong quá trình ấy sức lao động
tạo ra giá trị thặng dư. Do đó để nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị
thặng dư sẽ bắt đầu nghiên cứu quá trình lao động.
1. Quá trình lao động :
Lao động là hoạt động có mục đích có ý thức của con người nhằm thay
đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu con người
Như vậy quá trình lao động là sự kết hợp của 3 yếu tố: Đối tượng lao
động, tư liệu lao động và sức lao động.
- Sức lao động: Như đã nói ở trên thì nó là yếu tố cơ bản của quá
trình lao động vì sức lao động gắn với con người mà con người luôn
sáng tạo ra tư liệu lao động, đối tượng lao động đồng thời sử dụng
chúng để phục vụ lợi ích của mình.
Lao động và sức lao động khác nhau ở chỗ sức lao động mới chỉ là khả
năng của lao động còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện
thực. Mà sức lao động + đối tượng lao động và tư liệu lao động tạo ra
của cải vật chất. Trong quá trình lao động, sức lao động kết hợp với
dụng cụ lao động tác động với đối tượng lao động và chuyển toàn bộ
giá trị của những tư liệu sản xuất vào sản phẩm được tạo ra.
- Đối tượng lao động: là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con
người tác động vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục đích
con người.
Đối tượng lao động có hai loại: Loại có sẵn như gỗ, rừng, quặng trong
lòng đất,tôm,cá dưới sông biển lao động của con người tác động vàậ phục
vụ ngay cho nhu cầu của con người.Và một loại phải qua chế biến được gọi
là nguyên vật liệu.
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
6
- Tư liệu lao động: là những vật hoặc hệ thống những vật mà con người
dùng để tác động vào đối tượng lao động cho phù hợp với nhu cầu con
người.Trong tư liệu lao động trước hết phải kể đến công cụ lao động,đây là
yếu tố trực tiếp cải biến đối tượng lao động. Sự phát triển của công cụ lao
động nói lên thời đại khác.
Tư liệu lao động và đối tượng lao động có sự phân biệt tương đối. Đối
tượng lao động và tư liệu lao động trong quá trình lao động sản xuất hợp
thành tư liệu sản xuất, do đó, có thể nói rằng: quá trình lao động là sự kết
hợp của hai yếu tố: sức lao động và tư liệu sản xuất.
Đi từ cái chung là việc nghiên cứu quá trình lao động, Mác đã đi đến
phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới CNTB.
2. Sản xuất ra giá trị thặng dư:
Mụcđích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng
mà là giá trị, hơn nữa cũng không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị
thặng dư.Nhưng để sản xuất giá trị thặng dư trước hết nhà tư bản phải sản
xuất ra một giá trị sử dụng nàậ đó,vì giá trị sử dụng là vật mang giá trị và
giá trị thặng dư.
Để hiểu rõ hơn quá trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta lấy việc
sản xuất sợi của một nhà tư bản làm ví dụ:
Giả sử để có sợi bán nhà tư bản đã mua (giả định theo đúng giá trị)
20kg bông giá 20đôla; tiền hao mòn máy móc 3 đôla, tiền thuê công nhân
là 4đôla (Ngang bằng tư liệu sinh hoạt để họ sống trong một ngày)và giả sử
họ kéo hết số bông trên trong 4 giờ và mỗi giờ tạo ra một lượng giá trị mới
là 1 đôla. Việc mua bán trên là đúng giá trị và điều kiện sản xuất trung bình
của Xã hội.
Quá trình sản xuất được tiến hành trong 4 giờ lao động với tư cách là
lao động cụ thể công nhân kéo hết 20kg bông thành sợi. Giá trị của bông và
hao mòn máy mócđược lao động cụ thể của công nhân chuyển dịch và bảo
tồn vào giá trị của sợi, hình thành ra bộ phận giá trị cũ (C) là 23 đôla.Như
vậy để sản xuất ra 20kg sợi thì nhà tư bản phải ứng trước một số tiền là 23
đôla. Để sản xuất ra 20kg sợi thì cần phải có 20kg bông và sự hao mòn của
máy móc,khi 5kg sợi được sản xuất ra thì không có nghĩa là giá trị của 5kg
bông và phần máy móc bị hao mòn mất đi mà phần giá trị đó được chuyển
nguyên vẹn vào giá trị của 20kg sợi. Như vậy, giá trị của nhưng tư liệu sản
xuất 20kg bông và hao mòn máy móc được biểu hiện bằng 23 đôla, là
những bộ phận cấu thành giá trị của 20kg sợi.Chú ý là người ta chỉ chi phí
một thời gian lao động cần thiết trong những điều kiện sản xuất Xã hội nhất
định mà thôi, vì vậy dù nhà tư bản có sử dụng những tư liệu sản xuất nàậ có
giá trị lớn hơn 23đôla như trên đi nữa thì giá nhập vàậ của giá trị của 5kg
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
7
sợi cũng chỉ là 23 đôla, tức là số lao động Xã hội cần thiết của nền sản xuất
mà thôi.
Xét về phần giá trị mà lao động của người công nhân đã kết hợp vào
bông. Giả định muốn sản xuất một lượng trung bình những tư liệu sinh hoạt
cần thiết hàng ngày cho một người lao động thì mất 4 giờ lao động trung
bình và giả sử 4 giờ lao động trung bình đã được vật hoá trong 4 đôla.
Việc nhà tư bản trả 4 đôla cho một ngày lao động của người công nhân
là đúng giá trị của sức lao động.Trong quá trình lao động, lao động không
ngừng chuyển hoá từ hình thái hoạt động sang hình thái tồn tại, từ hình thái
vận động sang hình thái vật thể.Như vậy 4 giờ lao động Xã hội cần
thiết,vận động kéo sợi sẽ biểu hiện ra trong một lượng sợi nhất định là 20kg
sợi.Do đó thành phần giá trị do lao động của người công nhân kết hợp vào
giá trị của 20kg sợi là 4 giờ lao động xã hội cần thiết và chỉ là lượng vật
chất hoá của số giờ lao động xã hội đó mà thôi.Vậy cũng với 4 giờ lao động
trên với tư cách là lao động trừu tượng sức lao động của công nhân tạo ra
lượng giá trị mới (V+m) là 4 đôla, kết tinh vào giá trị của sợi.
Bây giờ ta thấy tổng giá trị của 20kg sợi gồm giá trị của 20kg bông là
20 đôla, với hao mòn máy móc là 3 đôla và 4 giờ lao động của người công
nhân kéo sợi biểu hiện là 4 đôla.Vậy giá trị của 20kg sợi là 27đôla. Họ ứng
ra 27đôla thu về 27 đôla như vậy họ không đạt được mục đích. Nhà tư bản
suy nghĩ công nhân lao động được trả tiền họ cũng lao động nhưng không
được gì. Họ suy nghĩ công nhân được trả 4 đôla ngang bằng với tư liệu sinh
hoạt sống trong một ngày do đó không thể chỉ lao động 4 giờ mà nhiều hơn
nữa là 8 giờ chẳng hạn, 4 giờ sau nhà tư bản chỉ phải mua 20kg bông trị giá
20 đôla, hao mòn máy móc là 3 đôla. Vậy tổng số tiền nhà tư bản ứng trước
để sản xuất 40kg sợi là 40 đôla cho 40kg bông, 6 đôla cho hao mòn máy
móc, 4đôla để thuê công nhân. Tổng là 50 đôla, mà giá trị của 40kg sợi là
54 đôla. Nếu nhà tư bản đem bán 40kg sợi (đúng giá trị) với giá 54 đôla thì
thu được lượng trội hơn là 4 đôla (54-50) là giá trị thặng dư của nhà tư bản.
Để làm sáng tỏ thêm CácMác đã lấy ngày lao động của công nhân để
chứng minh. Ông chia ngày lao động của công nhân làm hai phần là thời
gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư. Công nhân làm việc
trong phần thời gian lao động cần thiết tạo ra sản phẩm cần thiết với tiền
công của mình còn làm việc trong thời gian lao động thặng dư là tạo ra sản
phẩm thặng dư cho nhà tư bản. Nhà tư bản bán nó thu về giá trị thặng dư.
Từ đó cho ta biết được nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư: là
một bộ phận của giá trị mới, bộ phận giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao
động của công nhân. Do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị
nhà tư bản chiếm không là lao động không công của công nhân cho tư bản.
Là quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, quá trình sản xuất ra giá trị đến
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
8
một thời hạn mà ở đó giá trị sức lao động của công nhân được hoàn lại
bằng một bộ phận của giá trị mới.
Tư bản ứng trước của nhà tư bản được chia làm hai bộ phận. Một là bộ
phận tư bản được chi ra để mua tư liệu sản xuất (tư bản bất biến) ký hiệu là
C. Hai là bộ phận tư bản được chi ra để mua sức lao động (tư bản khả biến)
ký hiệu là V, bộ phận tư bản này cũng chỉ là một số tiền như tư bản chi ra
để mua tư liệu sản xuất nhưng nhờ mua được sức lao động là loại hàng hoá
đặc biệt mà khi tiêu dùng nó tạo ra giá trị thặng dư nên trở thành lượng khả
biến. Việc phân chia này càng chỉ rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là sức
lao động chứ không phải là máy móc hay tư liệu sản xuất khác.
Có hai phương thức sản xuất ra giá trị thặng dư:
a. Phương thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:
Đây là phương thức sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài tuyệt
đối ngày lao động trong khi phần thời gian lao động cần thiết của công
nhân không đổi. Phần thời gian giá trị thặng dư kéo dài bao nhiêu là được
hưởng bấy nhiêu.
Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ trong đó gồm thời gian lao động cần thiết
là 4 giờ và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Nay ngày lao động kéo dài
tuyệt đối thành 10 giờ mà thời gian lao động cần thiết không đổi thì thời
gian lao động thặng dư tăng từ 4 giờ đến 6 giờ. Điều này dẫn đến việc đấu
tranh của công nhân và sự đấu tranh đó buộc nhà tư bản phải rút ngắn thời
gian lao động. Khi đó độ dài ngày lao động được xác định và nhà tư bản
phải tìm phương thức khác để sản xuất ra giá trị thặng dư đó là phương
thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
b. Phương thức sản xuất giá trị thặng dư tương đối:
Là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần
thiết của công nhân trong khi thời gian lao động của người công nhân
không đổi dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội.
Ví dụ: Người lao động làm việc 8 giờ trong đó 4 giờ là thời gian lao
động cần thiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Nay ngày lao động
vẫn giữ nguyên là 8 giờ nhưng thời gian lao động cần thiết của công nhân
rút ngắn xuỗng còn 2 giờ nên thời gian lao động thặng dư tăng lên từ 4 giờ
đến 6 giờ. Như vậy muốn rút ngắn thời gian lao động của công nhân phải
tăng năng suất lao động xã hội và năng suất lao động xã hội tăng ên làm
cho giá trị hàng hoá tiêu dùng giảm xuống kéo theo sức lao động giảm. Vì
vậy 2 giờ lao động cần thiết cũng đảm bảo khối lượng tư liệu sinh hoạt để
công nhân tái sản xuất sức lao động, đồng thời để tăng năng suất lao động
phải cải tiến sản xuất, đổi mới công nghệ. Những doanh nghiệp nào đi đầu
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
9
trong đổi mới công nghệ sẽ thu được giá trị thặng dư siêu ngạch. Giá trị
thặng dư siêu ngạch chính là giá trị thặng dư tương đối vì nó đều do tăng
năng suất lao động mà có. Nhưng khác ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do
tăng năng suất lao động xã hội do đó tất cả các nhà tư bản đều được hưởng.
Còn giá trị thặng dư siêu ngạch là do tăng năng suất lao động cá biệt nên
chỉ có những nhà tư bản nào có năng suất lao động cá biệt hơn năng suất
lao động xã hội thì mới được hưởng giá trị thặng dư siêu ngạch. ở đây máy
móc công nghệ tiên tiến không tạo ra giá trị thặng dư mà nó tạo điều kiện
để tăng sức lao động của người lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá
thấp hơn giá trị của thị trường. Nhờ đó mà giá trị thặng dư tăng lên.
B. Mặt lượng của giá trị thặng dư:
Mặt lượng của giá trị thặng dư biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng dư, ở
khối lượng giá trị thặng dư, và ở trong các hình thức của giá trị thặng dư.
I. Tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ so sánh giữa giá trị thặng dư và tư bản
khả biến (ký hiệu là m’).
Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong tổng giá trị mới so sức lao động tạo
ra thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm được bao nhiêu
đồng thời nó còn chỉ rõ trong một ngày lao động, phần thời gian lao động
thặng dư mà người công nhân làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần
trăm so với thời gian lao động tất yếu làm cho mình. Nói lên sự bóc lột của
nhà tư bản với công nhân làm thuê, nó chưa nói rõ quy mô bóc lột. Để phản
ánh quy mô bóc lột CácMác sử dụng phạm trù khối lượng giá trị thặng dư.
II. Khối lượng giá trị thặng dư:
Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và
tổng số tư bản khả biến được sử dụng. Ký hiệu là M.
Như vậy, khối lượng giá trị thặng dư có thể được biểu hiện bằng công
thức:
M = m’.V
(Trong đó, V là tổng số tư bản khả biến được sử dụng.)
Nhìn vào công thức trên ta thấy,ở cùng một trình độ bóc lột (m’) nhất
định, nếu nhà tư bản sử dụng càng nhiều tư bản khả biến thì khối lượng giá
trị thặng dư thu được sẽ càng lớn. Như vậycó thể thấy giá trị thặng dư phản
ánh quy mô của sự bóc lột, hay đó là sự bóc lột theo chiều rộng.
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
10
III. Sự thay đổi trong đại lượng của giá trị thặng dư:
Khi ta bán hàng hoá thì giá cả phải luôn luôn cao hơn giá trị của nó.
Trong giá cả của hàng hoá gồm giá trị của nó và phần giá trị thặng dư, mà
phần giá trị thặng dư được quyết định bởi ba nhân tố là độ dài ngày lao
động, cường độ bình thường của lao động và sức sản xuất của lao động.
1. Đại lượng của ngày lao động và cường độ lao động không đổi (cho
sẵn), sức sản xuất của lao động thay đổi:
Đại lượng của ngày lao động không đổi, có nghĩa là giá trị của ngày lao
động đó không đổi, hay giá trị mới được tạo ra trong ngày lao động là
không đổi. Giá trị mới tạo ra này bao gồm giá trị sức lao động và giá trị
thặng dư. Mà giá trị của sức lao động không giảm xuống, thì giá trị thặng
dư không tăng lên, nên để có sự thay đổi đó cần phải thay đổi sức sản xuất.
Giả định: thời gian lao động cần thiết là 4 giờ, nếu sức sản xuất của lao
động tăng lên, thì chỉ cần một thời gian ít hơn 4 giờ để sản xuất ra khối
lượng tư liệu sinh hoạt hàng ngày cần thiết mà trước đây phải cần 4 giờ để
sản xuất. Do đó, giá trị của sức lao động sẽ giảm xuống. Ngược lại, nếu sức
sản xuất của lao động giảm xuống, thì giá trị của sức lao động tăng lên.
Như vậy, việc tăng năng suất lao động sẽ làm giảm giá trị của sức lao động,
và đồng thời làm tăng giá trị thặng dư mà việc tăng hay giảm của giá trị
thặng dư luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất nó là kết quả
chứ không phải là nguyên nhân của việc tăng hay giảm tương ứng của giá
trị sức lao động.
2. Ngày lao động không đổi, sức sản xuất của lao động không đổi,
cường độ lao động thay đổi:
Khi cường độ lao động cao thì sản phẩm làm ra trong ngày sẽ nhiều
hơn so với số lượng sản phẩm làm ra trong một ngày có cường độ lao động
thấp hơn mà số giờ lao động thì như nhau.
Trong trường hợp này cũng gần giống như trên là đều đem lại số lượng
sản phẩm lớn hơn trong cùng một thời gian lao động. Song cũng có điểm
khác là giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm trong trường hợp này không đổi vì
trước cũng như sau để làm ra một sản phẩm đều hao phí một lượng lao
động như nhau còn trong trường hợp tăng sức sản xuất của lao động giá trị
của mỗi đơn vị sản phẩm giảm đi vì nó tốn ít lao động hơn trước.
Việc tăng cường độ lao động, làm khối lượng sản phẩm sản xuất ra khi
đó tăng lên, giá trị lại không giảm, làm tổng giá trị tăng, trong khi đó giá trị
của sức lao động không đổi, do đó, làm giá trị thặng dư tăng lên. Việc đó
khác với việc tăng sức sản xuất của lao động, làm cho giá trị của sức lao
động giảm đi, mà tổng số giá trị không tăng lên (vì tuy khối lượng sản
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
11
phẩm tăng, nhưng giá trị của mỗi sản phẩm lại giảm đi tương ứng), do đó
giá trị thặng dư tăng lên.
3. Sức sản xuất của lao động và cường độ lao động không thay đổi,
ngày lao động thay đổi:
Ngày lao động có thể thay đổi theo hai chiều, nó có thể được rút ngắn
lại hay kéo dài ra.
Việc rút ngắn ngày lao động, trong điều kiện năng suất lao động và
cường độ lao động không thay đổi, không làm thay đổi giá trị của sức lao
động, hay không làm thay đổi số thời gian lao động cần thiết, vì thế nó làm
thời gian lao động thặng dư bị rút ngắn, hay làm giá trị thặng dư giảm. Đại
lượng tuyệt đối của giá trị thặng dư giảm làm đại lượng tương đối của nó so
với đại lượng không đổi của giá trị sức lao động cũng giảm xuống. Nên chỉ
có bằng cách giảm giá cả của sức lao động xuống thì nhà tư bản mới không
bị tổn thất. Nếu không thì việc rút ngắn thời gian lao động bao giờ cũng
gắn liền với sự thay đổi của năng suất lao động và cường độ lao động.
Kéo dài thời gian lao động: Giả sử thời gian lao động cần thiết là 4 giờ,
hay giá trị của sức lao động là 4 đồng, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ
và giá trị thặng dư là 4 đồng. Toàn bộ ngày lao động là 8 giờ, và biểu hiện
trong sản phẩm là 8 đồng. Nếu ngày lao động được kéo dài thêm 2 giờ, và
giá cả sức lao động không thay đổi, thì đại lượng tương đối của giá trị
thặng dư tăng lên cùng với đại lượng tuyệt đối của nó. Mà vì giá trị của sức
lao động không đổi, giá trị thặng dư lại tăng lên, do đó, đại lượng tương đối
của giá trị sức lao động so với giá trị thặng dư sẽ giảm xuống. Như vậy, giá
trị thặng dư tăng lên là nguyên nhân làm đại lượng tương đối của giá trị sức
lao động giảm. Khi kéo dài ngày lao động cho đến một điểm nhất định, thì
sự hao mòn sức lao động tăng lên, người lao động cần nhiều tư liệu sinh
hoạt hơn để bù đắp hao mòn đó, do đó, giá cả của sức lao động phải tăng
lên, nhưng ngay cả khi giá cả của sức lao động có tăng lên thì giá trị của
sức lao động cũng giảm đi tương đối so với giá trị thặng dư.
4. Sự thay đổi cùng lúc của ngày lao động, sức sản xuất và cường độ
của lao động :
Có hai trường hợp quan trọng sau cần phải nghiên cứu:
Sức sản xuất của lao động giảm xuống, đồng thời ngày lao động bị kéo
dài.
Chúng ta nói đến sức sản xuất của lao động giảm xuống là nói đến
những ngành lao động mà sản phẩm quyết định giá trị của sức lao động,
như ngành nông nghiệp, sức sản xuất của lao động đã giảm xuống do độ
màu mỡ của đất kém đi, và giá cả sản phẩm đó đắt lên một cách tương ứng.
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
12
Khi sức sản xuất của lao động giảm đi, thì như phân tích ở trên, giá trị
của sức lao động sẽ tăng lên, thời gian lao động cần thiết tăng lên, làm thời
gian lao động thặng dư giảm đi, giá trị thặng dư cũng vì thế mà giảm
xuống. Nếu như ngày lao động được kéo dài để giá trị thặng dư được sinh
ra khi đó đúng bằng lượng giá trị thặng dư trước đó, thì đại lượng của nó
vẫn giảm xuống tương đối so với giá trị sức lao động. Và nếu tiếp tục kéo
dài thời gian lao động thì có thể cả hai đại lượng tuyệt đối và tương đối của
giá trị thặng dư có thể tăng lên.
Cường độ và năng suất lao động tăng lên cùng với việc rút ngắn ngày
lao động
Khi cường độ và sức sản xuất của lao động tăng lên có nghĩa là thời
gian lao động cần thiết được rút ngắn lại, đồng thời, thời gian lao động
thặng dư được kéo dài ra, giá trị thặng dư được sinh ra tăng lên. Và do đó,
có thể rút ngắn ngày lao động đến khi thời gian lao động thặng dư không
còn nữa, nhưng cả khi sức sản xuất và cường độ của lao động có tăng đi
nữa, giới hạn thời gian lao động cần thiết vẫn sẽ được nới rộng, bởi vì, càng
ngày con người càng có nhu cầu sinh sống, hoạt động phong phú hơn, đồng
thời một phần lao động thặng dư ngày nay sẽ được tính vào lao động cần
thiết, cụ thể là phần lao động cần thiết cho việc thành lập quỹ dự trữ và quỹ
tích luỹ xã hội. Năng suất lao động càng phát triển, thì lại càng có thể rút
ngắn ngày lao động, và ngày lao động càng rút ngắn lại thì cường độ lao
động càng có thể tăng lên.
IV. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư là một phạm trù nói lên bản chất của nền sản xuất
TBCN. Trong đời sống thực tế của xã hội tư bản, giá trị thặng dư chuyển
hoá và biểu hiện thành lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi
nhuận ngân hàng, lợi tức cho vay, địa tô TBCN.
1. Lợi nhuận:
Muốn tạo ra giá trị hàng hoá tất yếu phải chi ra một số lao động nhất
định gọi là chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ và lao động hiện
tại. Lao động quá khứ (lao động vật hoá) tức là giá trị của tư liệu sản xuất
(C), lao động hiện tại (lao động sống) tức là lao động tạo ra giá trị mới
(V+m). Chi phí lao động đó là chi phí thực tế của xã hội, chi phí tạo ra giá
trị hàng hóa (W). W=C+V+m
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
13
Song đối với nhà tư bản họ không phải chi phí lao động để sản xuất
hàng hóa cho nên họ không quan tâm đến còn trên thực tế họ chỉ quan tâm
đến việc ứng tư bản để mua tư liệu sản xuất (C) và mua sức lao động (V).
Do đó nhà tư bản chỉ xem hao phí hết bao nhiêu tư bản chứ không tính đến
hao phí hết bao nhiêu lao động xã hội. CácMác gọi chi phí đó là chi phí sản
xuất tư bản chủ nghĩa (k) (k=C+V). Như vậy chi phí sản xuất tư bản chủ
nghĩa là chi phí về tư bản mà nhà tư bản bỏ ra để sản xuất hàng hoá. Như
vậy giá trị hàng hóa là W= C+V+m sẽ chuyển thành W= k+m. Nhìn vào
công thức trên thì ta thấy sự phân biệt giữa C và V đã biến mất, người ta
thấy dường như k sinh ra m. Chính ở đây chi phí lao động bị che lấp bởi chi
phí tư bản (k) lao động là thực thể, là nguồn gốc của giá trị thì bị biến mất
và giờ đây hình như toàn bộ chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra giá trị
thặng dư.
Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn có
một khoảng chênh lệch cho nên sau khi bán hàng (giá cả bằng giá trị) nhà
tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra mà còn thu được một số
tiền lời ngang bằng với m, số tiền này được gọi là lợi nhuận (p) do đó cơ
cấu sản phẩm là W=k+p.
Giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận có sự khác nhau cơ bản về chất và
lượng. Giá trị thặng dư thì sinh ra từ V (tức là lao động của công nhân) còn
lợi nhuận thì được coi là đã được sinh rat từ C+V (tư bản ứng trước).
Nhưng chúng cũng có sự giống nhau ở chỗ đều có chung một nguồn gốc là
kết quả lao động không công của công nhân làm thuê. Thực chất lợi nhuận
và giá trị thặng dư đều là một, lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái
thần bí hoá của giá trị thặng dư. Như CácMác viết: “Giá trị thặng dư hay là
lợi nhuận chính là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hóa so với chi phí
sản xuất của nó nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng
trong hàng hoá so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong
hàng hoá. Nếu như nhà tư bản bán hàng hoá với giá cả bằng giá trị thì khi
đó
m =p, nếu bán với giá cả cao hơn giá trị thì khi đó m <p, nếu bán với
giá cả nhỏ hơn giá trị thì khi đó m>p. Nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá
cả luôn bằng tổng lợi nhuận bằng tổng giá trị thặng dư. Chính sự không
nhất trí giữa m và p nên càng che dấu thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư
bản.
Trong nền kinh tế tư bản mặc dù lợi nhuận là mục đích trực tiếp và tối
cao của các nhà tư bản nhưng khi bắt đầu đầu tư vào một ngành sản xuất
kinh doanh nào đó thì cái mà nhà tư bản quan tâm đến trước hết là tỷ suất
lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng
dư mà nhà tư bản đã bóc lột được của công nhân làm thuê so với tổng tư
bản ứng trước ký hiệu là p’ vì thế có công thức p’
(C+V)
= m x 100%. P’
Mặt chất và lượng của giá trị thặng dư và ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét